TÓM TẮT
- Biện pháp thay đổi lối sống
Các biện pháp lối sống quan trọng bao gồm: tập thể dục, cai thuốc lá, tư vấn phòng chống té ngã và hạn chế sử dụng rượu mạnh cho tất cả nam giới loãng xương. (Xem thêm mục ‘Các biện pháp lối sống’ ở dưới.)
- Đảm bảo cung cấp đầy đủ canxi và vitamin D
Mặc dù liều lượng tối ưu (tổng hợp từ chế độ ăn và thuốc bổ sung) chưa được thiết lập rõ ràng cho nam giới loãng xương, nhưng mức khuyến cáo chung thường là khoảng 1000 đến 1200 mg canxi và 600 đến 800 đơn vị quốc tế (IU) vitamin D mỗi ngày. Đối với nam giới loãng xương (T-score dưới -2,5) và có chế độ ăn không cung cấp đủ, chúng tôi đề nghị bổ sung canxi và vitamin D (Khuyến cáo 2B). (Xem thêm “Bổ sung canxi và vitamin D trong loãng xương”.)
Liều dùng canxi và vitamin D có thể thay đổi tùy theo các bệnh lý phối hợp của từng cá nhân. (Xem thêm “Bổ sung canxi và vitamin D trong loãng xương”, phần ‘Các vấn đề y khoa đồng mắc’.)
- Quản lý các bệnh lý nền
Nếu loãng xương là hệ quả của một bệnh lý khác (ví dụ: thiếu hụt testosterone), cần tập trung điều trị nguyên nhân gốc rễ này. (Xem thêm mục ‘Quản lý các bệnh lý nền’ ở dưới.)
- Lựa chọn bệnh nhân điều trị thuốc loãng xương
- Đối với nam giới loãng xương (có tiền sử gãy xương do sang chấn nhẹ, hoặc nam giới ≥50 tuổi có T-score dưới -2,5), chúng tôi khuyến cáo điều trị bằng thuốc loãng xương (Khuyến cáo 1B). (Xem thêm mục ‘Lựa chọn bệnh nhân’ ở dưới.)
- Đối với nam giới suy tuyến sinh dục đang điều trị bằng testosterone nhưng có nguy cơ gãy xương cao, chúng tôi đề nghị phối hợp thuốc điều trị loãng xương cùng với liệu pháp testosterone (Khuyến cáo 2C). Nhóm nguy cơ cao có thể bao gồm: nam giới suy tuyến sinh dục có T-score mật độ khoáng xương (BMD) ≤-2,5 sau khi điều trị thay thế testosterone đầy đủ trong ≥2 năm; nam giới dùng glucocorticoid liều cao; nam giới thường xuyên té ngã; nam giới mới bị gãy xương do sang chấn nhẹ, đặc biệt nếu T-score BMD ≤-2,5 ở bất kỳ vị trí xương nào; hoặc nam giới có T-score ≤-3,0. (Xem thêm mục ‘Lựa chọn bệnh nhân’ ở dưới.)
- Đối với nam giới ≥50 tuổi có T-score từ -1,0 đến -2,5 và có nguy cơ gãy xương cao, chúng tôi đề nghị điều trị bằng thuốc loãng xương (Khuyến cáo 2B). Ngưỡng xác định nguy cơ cao hợp lý và có hiệu quả về chi phí trong một số điều kiện lâm sàng là xác suất gãy xương hông trong 10 năm (sử dụng Công cụ Đánh giá Nguy cơ Gãy xương [FRAX]) ≥3,0% hoặc xác suất gãy xương loãng xương chính tổng hợp ≥20%. (Xem thêm mục ‘Lựa chọn bệnh nhân’ ở dưới.)
- Lựa chọn liệu pháp khởi đầu
Đối với đa số nam giới cần điều trị thuốc loãng xương, chúng tôi đề nghị sử dụng bisphosphonates là liệu pháp đầu tay (Khuyến cáo 2B). Chúng tôi ưu tiên alendronate hoặc risedronate hơn các bisphosphonates khác nhờ các dữ liệu thử nghiệm lâm sàng chứng minh hiệu quả trên nam giới loãng xương. (Xem thêm mục ‘Liệu pháp khởi đầu: Bisphosphonate’ ở dưới.)
Những bệnh nhân có rối loạn thực quản, không dung nạp bisphosphonates đường uống, thực hiện một số loại phẫu thuật giảm béo (ví dụ: nối vị tràng Roux-en-Y), hoặc không thể tuân thủ các yêu cầu về liều lượng của thuốc uống thì không nên dùng bisphosphonates đường uống mà nên chuyển sang liệu pháp bisphosphonates truyền tĩnh mạch (IV). Zoledronic acid là bisphosphonate đường tĩnh mạch duy nhất đã chứng minh được hiệu quả trong phòng ngừa gãy xương ở nam giới. (Xem thêm mục ‘Chống chỉ định hoặc không dung nạp bisphosphonate đường uống’ ở dưới.)
Teriparatide, abaloparatide và denosumab là các lựa chọn thay thế cho những nam giới không dung nạp hoặc không đáp ứng với bất kỳ loại bisphosphonate nào. (Xem thêm mục ‘Chống chỉ định/không dung nạp với bất kỳ loại bisphosphonate nào’ ở dưới.)
- Loãng xương mức độ nặng
Đối với nam giới có nguy cơ gãy xương rất cao (ví dụ: T-score ≤-2,5 kèm theo ít nhất một tổn thương gãy xương do sang chấn nhẹ, T-score ≤-3,0 ngay cả khi chưa có gãy xương, hoặc gãy nhiều đốt sống/gãy đốt sống nghiêm trọng), chúng tôi đề nghị sử dụng teriparatide (Khuyến cáo 2B). Teriparatide hiện có nhiều dữ liệu về an toàn dài hạn hơn so với các thuốc đồng hóa xương khác. Abaloparatide và romosozumab là các thuốc đồng hóa thay thế. Sau khi ngưng các thuốc không thuộc nhóm bisphosphonate, cần sử dụng một thuốc chống hủy xương để ngăn ngừa tình trạng mất xương sau khi ngừng thuốc. (Xem thêm mục ‘Loãng xương nặng’ ở dưới và “Liệu pháp tương tự hormone tuyến cận giáp/protein liên quan đến hormone tuyến cận giáp trong điều trị loãng xương”, phần ‘Lựa chọn bệnh nhân’, “Liệu pháp tương tự hormone tuyến cận giáp/protein liên quan đến hormone tuyến cận giáp trong điều trị loãng xương”, phần ‘Quản lý sau khi dùng teriparatide’ và “Tổng quan về quản lý tình trạng giảm khối lượng xương và loãng xương ở phụ nữ sau mãn kinh”, phần ‘Romosozumab’.)
- Theo dõi đáp ứng điều trị
Hiện có nhiều phương pháp theo dõi điều trị nhưng chưa có sự đồng thuận về phương pháp tối ưu nhất. Bệnh nhân có thể được theo dõi bằng cách đo mật độ khoáng xương (BMD), tương tự như khuyến cáo cho phụ nữ sau mãn kinh. Với những bệnh nhân bắt đầu điều trị, chúng tôi thường chỉ định đo hấp thụ tia X năng lượng kép (DXA) cột sống và hông sau một đến hai năm; nếu BMD ổn định hoặc cải thiện, tần suất theo dõi sau đó sẽ giảm dần. (Xem thêm “Tổng quan về quản lý tình trạng giảm khối lượng xương và loãng xương ở phụ nữ sau mãn kinh”, phần ‘Theo dõi đáp ứng với liệu pháp dược lý ban đầu’.)