Gãy xương đốt xa ngón tay/chân

TÓM TẮT

  • Dịch tễ học và cơ chế chấn thương – Gãy đốt ngón xa là tổn thương phổ biến, chiếm hơn một nửa số ca gãy xương bàn tay. Nguyên nhân thường do va đập trực tiếp hoặc chấn thương dập nát, có thể gây tổn thương mô mềm và giường móng nghiêm trọng. (Xem ‘Giải phẫu’, ‘Dịch tễ học và vị trí tổn thương’, ‘Cơ chế chấn thương’ ở dưới và “Đánh giá và xử trí tổn thương đầu ngón tay”.)
  • Biểu hiện lâm sàng và thăm khám – Bệnh nhân thường có biểu hiện sưng và ấn đau ở đầu ngón tay. Việc thăm khám ban đầu cần tập trung xác định các yếu tố biến chứng cần xử trí khẩn cấp, bao gồm: vết thương hở, khiếm khuyết thần kinh – mạch máu, di lệch hoặc trật khớp, và rối loạn chức năng gân. Cần thực hiện khám thần kinh mạch máu, bao gồm đánh giá khả năng phân biệt hai điểm và thời gian đổ đầy mao mạch. (Xem ‘Biểu hiện lâm sàng và thăm khám’ ở dưới.)
  • Chẩn đoán hình ảnh – Đánh giá X-quang đốt ngón xa bao gồm các bình diện: trước-sau (AP), nghiêng và chếch. Các trường hợp gãy ngang đốt ngón xa (hình 5) có gập góc thường không ổn định. Hầu hết các trường hợp gãy dọc, gãy nhiều mảnh và gãy đầu đốt (tuft fracture) đều ổn định. (Xem ‘Chẩn đoán hình ảnh’ ở dưới.)
  • Tổn thương giường móng – Tổn thương giường móng thường gặp trong gãy đốt ngón xa. Việc xử trí các tổn thương này được xem xét trong một mục riêng. (Xem “Tụ máu dưới móng”“Đánh giá và xử trí tổn thương đầu ngón tay”.)
  • Chỉ định chuyển chuyên khoa phẫu thuật – Cần hội chẩn khẩn cấp với phẫu thuật viên bàn tay đối với các trường hợp gãy hở kèm tổn thương mô mềm hoặc xương diện rộng (ví dụ: chấn thương dập nát nghiêm trọng) và gãy xương kèm tổn thương mạch máu. Các chỉ định chuyển chuyên khoa không khẩn cấp được mô tả chi tiết trong nội dung bài viết. (Xem ‘Chỉ định chuyển chuyên khoa phẫu thuật’ ở dưới.)
  • Gãy xương Seymour là tổn thương Salter-Harris độ I hoặc II, hoặc gãy cận đầu xương (hình 6) kèm theo tổn thương giường móng. Những tổn thương này cần được phẫu thuật viên bàn tay đánh giá ngay trong ngày chẩn đoán; bệnh nhân cần được cắt lọc tổn thương và dùng kháng sinh khẩn cấp. (Xem ‘Gãy xương Seymour ở trẻ em’, ‘Chẩn đoán hình ảnh’‘Xử trí gãy xương Seymour ở trẻ em’ ở dưới.)
  • Xử trí gãy xương không di lệch – Gãy đốt ngón xa không di lệch được điều trị bằng nẹp cố định khớp liên đốt xa (DIP) trong 3 đến 4 tuần cho đến khi có dấu hiệu liền xương trên lâm sàng. Chúng tôi khuyến cáo KHÔNG dùng kháng sinh dự phòng (Khuyến cáo 2C), trừ khi có vết thương hở bị nhiễm bẩn nặng hoặc bệnh nhân có nguy cơ nhiễm trùng cao (ví dụ: suy giảm miễn dịch). (Xem ‘Điều trị ban đầu’‘Kháng sinh dự phòng’ ở dưới.)

Gói truy cập

Dùng thử

0 VND

  • Trải nghiệm một số nội dung trong thư viện.
  • Khôn cần đăng ký tài khoản.
  • Mua gói truy cập khi bạn sẵn sàng.

Gói truy cập một năm

389.000 VND

  • Truy cập toàn bộ thư viện mọi lúc, mọi nơi, và trên mọi thiết bị.
  • Nội dung cập nhật mỗi ngày.
  • Thanh toán bằng quét VietQR, nhanh chóng và an toàn.
  • Hỗ trợ trực tuyến.
Already a member? Log in here