TÓM TẮT
Các thành phần trong chăm sóc
- Đánh giá lão khoa toàn diện – Bệnh nhân khi nhập viện tại cơ sở điều dưỡng chuyên sâu (SNF) cần được đánh giá lão khoa toàn diện (CGA). Tại các SNF ở Hoa Kỳ, Bộ dữ liệu tối thiểu (Minimum Data Set – MDS) là công cụ bắt buộc để đánh giá toàn diện cư dân trong vòng 14 ngày kể từ khi nhập viện đối với tất cả các cơ sở nhận tài trợ từ liên bang, cũng như để tái đánh giá hàng quý cho những cư dân lưu trú dài hạn. (Xem thêm ‘Đánh giá lão khoa toàn diện’ và ‘Bộ dữ liệu tối thiểu’ ở dưới.)
- Phục hồi chức năng – Bệnh nhân trong giai đoạn sau cấp tính thường được kỳ vọng sẽ cải thiện chức năng, do đó thường được chỉ định phối hợp các liệu pháp: vật lý trị liệu, hoạt động trị liệu hoặc âm ngữ trị liệu. (Xem thêm ‘Phục hồi chức năng’ ở dưới.)
- Nhận diện các vấn đề y khoa mới và chuẩn bị xuất viện – Để bệnh nhân có thể xuất viện về nhà, nhân viên SNF phải đảm bảo chăm sóc y tế cho các bệnh lý đã được chẩn đoán tại bệnh viện cấp cứu, thúc đẩy quá trình phục hồi chức năng và luôn cảnh giác với sự xuất hiện của các vấn đề mới. Nhóm đa chuyên khoa cần chuẩn bị cho bệnh nhân và người chăm sóc quá trình chuyển tiếp an toàn về môi trường gia đình bằng cách xác định các nguồn hỗ trợ tại nhà mà bệnh nhân cần. (Xem thêm ‘Nhận diện các vấn đề y khoa mới’ và ‘Dự báo nhu cầu sau xuất viện’ ở dưới.)
- Các vấn đề về hành vi – Các vấn đề về hành vi là những thách thức khó khăn trong môi trường SNF và thường liên quan đến sa sút trí tuệ mức độ trung bình đến nặng. Tuy nhiên, đối với sảng, cần đánh giá và quản lý các bệnh lý nền, bao gồm mất cân bằng điện giải, mất nước, đau và nhiễm trùng. Mặc dù các thuốc an thần được coi là biện pháp kiềm chế hóa học và việc sử dụng chúng được kiểm soát chặt chẽ tại SNF, nhưng các triệu chứng loạn thần và hành vi hung hăng có thể cần được kiểm soát bằng thuốc tâm thần, thường là các thuốc an thần không điển hình. (Xem thêm ‘Sảng’ và ‘Các vấn đề hành vi liên quan đến sa sút trí tuệ’ ở dưới.)
- Phòng ngừa té ngã – Té ngã là tình trạng phổ biến tại các SNF; nguy cơ này có thể được giảm thiểu thông qua các can thiệp đa chuyên khoa và hạn chế sử dụng các loại thuốc có nguy cơ gây té ngã. (Xem thêm ‘Té ngã’ ở dưới và “Té ngã: Phòng ngừa trong cơ sở chăm sóc điều dưỡng và môi trường bệnh viện”.)
- Tiêm chủng – Nhân viên SNF và bệnh nhân/cư dân cần được tiêm chủng đầy đủ các vaccine phù hợp với lứa tuổi, bao gồm cúm, COVID-19, phế cầu, zona (herpes zoster) và uốn ván-bạch hầu (theo chỉ định). (Xem thêm ‘Nhiễm trùng’ ở dưới và “Tiêm chủng tiêu chuẩn cho người trưởng thành không mang thai”.)
- Kiểm soát bùng phát dịch – Trong trường hợp xảy ra đợt bùng phát cúm, những bệnh nhân có tiếp xúc cần được điều trị dự phòng bằng thuốc kháng virus. Cần thiết lập thêm các biện pháp kiểm soát nhiễm khuẩn, chẳng hạn như hạn chế di chuyển giữa khu vực bị ảnh hưởng và khu vực không bị ảnh hưởng trong SNF, đồng thời ngừng tiếp nhận bệnh nhân mới vào các khu vực này. Các nội dung này được thảo luận chi tiết trong phần riêng. (Xem thêm “Cúm mùa ở người trưởng thành: Vai trò của dự phòng bằng thuốc kháng virus” và “Các biện pháp kiểm soát nhiễm khuẩn để phòng ngừa cúm mùa”.)
- Quản lý đau – Đau là tình trạng phổ biến và thường không được điều trị đầy đủ trong môi trường SNF. Nhiều can thiệp không dùng thuốc cũng như các thuốc dùng tại chỗ có thể mang lại hiệu quả cao. Cần tránh sử dụng thuốc chống viêm không steroid (NSAIDs) kéo dài do độc tính của chúng. Bệnh nhân/cư dân suy giảm nhận thức khi đau nên được điều trị bằng các thuốc giảm đau định kỳ vì họ thường không tự yêu cầu thuốc. Quản lý đau trong giai đoạn cuối đời đặt ra những thách thức đặc thù; các chế phẩm opioid dùng qua da hoặc ngậm dưới lưỡi đặc biệt hữu ích trong chăm sóc cuối đời. (Xem thêm ‘Đau’ ở dưới, “Tiếp cận quản lý đau mãn tính không do ung thư ở người trưởng thành” và “Tiếp cận đánh giá triệu chứng trong chăm sóc giảm nhẹ”, phần ‘Đau’.)
- Dinh dưỡng – Sụt cân không chủ ý có liên quan đến việc tăng tỷ lệ tử vong và cần được đánh giá để tìm các nguyên nhân có thể đảo ngược, chẳng hạn như trầm cảm, các vấn đề về răng miệng, thần kinh hoặc tác dụng phụ của thuốc. Không có bằng chứng cho thấy đặt ống nuôi ăn qua da (PEG) giúp cải thiện tình trạng dinh dưỡng hoặc kéo dài sự sống cho cư dân nhà điều dưỡng sa sút trí tuệ giai đoạn nặng. Các thực phẩm bổ sung dinh dưỡng đường uống có thể hỗ trợ một phần. (Xem thêm ‘Dinh dưỡng và bù nước’ ở dưới.)
- Tổn thương do tỳ đè – Quản lý tổn thương do tỳ đè đòi hỏi một tiếp cận đa chuyên khoa. Bệnh nhân có tổn thương do tỳ đè thường suy dinh dưỡng và có thể cần tăng cường lượng protein để thúc đẩy làm lành vết thương. (Xem thêm ‘Tổn thương do tỳ đè’ ở dưới và “Phân giai đoạn lâm sàng và quản lý chung tổn thương da và mô mềm do tỳ đè”.)
- Phòng ngừa các biến cố bất lợi do thuốc – Tình trạng đa thuốc (polypharmacy) rất phổ biến trong môi trường SNF. Dược sĩ và lâm sàng viên nên thường xuyên rà soát danh mục thuốc, vì chỉ định điều trị sẽ thay đổi theo tình trạng của bệnh nhân/cư dân. Cách tiếp cận phối hợp, lấy bệnh nhân làm trung tâm là yếu tố then chốt để thực hiện thành công việc giảm bớt thuốc (deprescribing) và tối ưu hóa liệu pháp dùng thuốc. (Xem thêm ‘Phòng ngừa các biến cố bất lợi do thuốc’ ở dưới, “Phòng ngừa các biến cố bất lợi do thuốc trong bệnh viện” và “Giảm bớt thuốc (Deprescribing)”.)
- Lập kế hoạch chăm sóc trước – Lập kế hoạch chăm sóc trước (Advance care planning) là một quá trình nhằm hiểu rõ các mục tiêu chăm sóc và nguyện vọng điều trị, đồng thời là một phần quan trọng của mô hình chăm sóc lấy bệnh nhân làm trung tâm tại SNF. Ngoài việc giải quyết các vấn đề xoay quanh hồi sức cấp cứu, cư dân nên được lựa chọn bày tỏ nguyện vọng về việc nhập viện và các phương pháp điều trị khác. (Xem thêm ‘Lập kế hoạch chăm sóc trước’ ở dưới và “Lập kế hoạch chăm sóc trước và chỉ thị trước”.)
- Phòng ngừa nhập viện không cần thiết – Những thay đổi trong cơ chế hoàn trả và các chế tài tài chính đang tạo áp lực buộc các SNF phải giảm thiểu các trường hợp nhập viện không cần thiết, tái nhập viện trong vòng 30 ngày và các lần thăm khám cấp cứu. Hiện có nhiều can thiệp hỗ trợ các SNF đạt được những mục tiêu này. (Xem thêm ‘Phòng ngừa nhập viện không cần thiết’ ở dưới.)