TÓM TẮT
Bệnh nhân không ổn định – Đối với những bệnh nhân hiếm gặp có tình trạng huyết động không ổn định hoặc có cơn đau thắt ngực do rung nhĩ (AF) nhưng nguy cơ thuyên tắc mạch thấp, chúng tôi khuyến cáo nên chuyển nhịp bằng điện khẩn cấp thay vì không chuyển nhịp (Khuyến cáo 1C). Việc tiêm bolus heparin tĩnh mạch trước khi chuyển nhịp có thể mang lại lợi ích trong việc phòng ngừa thuyên tắc mạch do rối loạn chức năng tiểu nhĩ trái sau chuyển nhịp, tuy nhiên hiệu quả của phương pháp này vẫn chưa được nghiên cứu đầy đủ. (Xem thêm mục ‘Chỉ định’ ở dưới.)
Bệnh nhân ổn định – Hầu hết bệnh nhân rung nhĩ không cần chuyển nhịp khẩn cấp hay cấp cứu, vì việc kiểm soát làm chậm tần số thất thường sẽ giúp cải thiện các triệu chứng. Chúng tôi cũng cố gắng trì hoãn việc chuyển nhịp để có thời gian khởi đầu điều trị chống đông.
Đối với một số bệnh nhân ổn định có rung nhĩ không do bệnh van tim, việc khôi phục nhịp xoang (SR) bằng chuyển nhịp bằng điện hoặc bằng thuốc là cần thiết hoặc hợp lý (xem thêm mục ‘Kiểm soát tần số thất’ và ‘Chỉ định’ ở dưới):
- Cơn rung nhĩ đầu tiên có triệu chứng – Đối với hầu hết bệnh nhân có triệu chứng trong cơn rung nhĩ khởi phát mới hoặc cơn đầu tiên, chúng tôi đề xuất thử nghiệm chuyển nhịp thay vì không can thiệp (Khuyến cáo 2C).
Ở những bệnh nhân có các yếu tố dự báo khả năng thành công cao khi chuyển nhịp bằng điện và không có kế hoạch điều trị thuốc chống loạn nhịp duy trì dài hạn, chúng tôi đề xuất chuyển nhịp bằng điện thay vì dùng thuốc (Khuyến cáo 2B). (Xem thêm mục ‘Lý do không thực hiện chuyển nhịp’ và ‘Chuyển nhịp bằng điện so với chuyển nhịp bằng thuốc’ ở dưới.)
Đối với những bệnh nhân lớn tuổi hoặc có nhiều bệnh lý đồng mắc, việc tránh chuyển nhịp là hợp lý nếu các triệu chứng có thể được giảm thiểu và đạt được mục tiêu kiểm soát tần số thất bằng thuốc; phương pháp tiếp cận này cần được cá thể hóa cho từng bệnh nhân.
- Bệnh nhân thất bại với chiến lược kiểm soát tần số dài hạn – Đối với những bệnh nhân mà chiến lược kiểm soát tần số dài hạn thất bại do triệu chứng dai dẳng, chiến lược kiểm soát nhịp bao gồm chuyển nhịp là hợp lý.
- Các cơn rung nhĩ thưa – Chuyển nhịp bằng điện định kỳ là một lựa chọn cho những bệnh nhân có các cơn rung nhĩ thưa không tự chuyển về nhịp xoang, bao gồm cả những bệnh nhân đang được quản lý theo chiến lược kiểm soát nhịp.
- Vai trò của kiểm soát tần số và chống đông – Hầu hết bệnh nhân được lựa chọn chuyển nhịp sẽ cần được kiểm soát tần số thất và đánh giá nhu cầu chống đông trước khi tiến hành thủ thuật. (Xem thêm mục ‘Kiểm soát tần số thất’ và ‘Chống đông’ ở dưới.)
- Thuốc chống loạn nhịp – Các thuốc này có thể được khởi đầu trước khi chuyển nhịp bằng điện để tăng khả năng thành công của thủ thuật, tăng khả năng duy trì nhịp xoang trong những giờ sau chuyển nhịp, hoặc là bước đầu tiên trong kế hoạch điều trị chống loạn nhịp dài hạn. (Xem thêm mục ‘Thuốc chống loạn nhịp trước thủ thuật’ ở dưới.)
Đối với bệnh nhân rung nhĩ không có bệnh lý cấu trúc tim (bao gồm không có bằng chứng bệnh động mạch vành) được lựa chọn chuyển nhịp bằng thuốc, chúng tôi đề xuất sử dụng flecainide hoặc propafenone thay vì các thuốc chống loạn nhịp khác (Khuyến cáo 2B). Việc lựa chọn giữa hai loại thuốc này tùy thuộc vào kinh nghiệm của bác sĩ điều trị và tình trạng lâm sàng của bệnh nhân. (Xem thêm mục ‘Chuyển nhịp bằng thuốc’ ở dưới.)