Sởi: Biểu hiện lâm sàng, chẩn đoán, điều trị và phòng ngừa

TÓM TẮT

Hội chứng và thời gian ủ bệnh − Sởi là một bệnh truyền nhiễm do virus có khả năng lây lan rất cao trên toàn thế giới. Bệnh đặc trưng bởi tình trạng sốt, mệt mỏi, ho, sổ mũi (viêm mũi) và viêm kết mạc, sau đó là phát ban. Khoảng 90% những cá thể nhạy cảm sẽ mắc sởi sau khi tiếp xúc với nguồn bệnh. Thời gian lây truyền ước tính từ 5 ngày trước khi phát ban đến 4 ngày sau đó. Bệnh có thể lây truyền trong không gian công cộng ngay cả khi không có tiếp xúc trực tiếp giữa người với người. Bệnh nhân đang được đánh giá nghi ngờ mắc sởi cần được cách ly. (Xem ‘Giới thiệu’ ở dưới.)

Các giai đoạn nhiễm trùng − Nhiễm sởi điển hình ở bệnh nhân có hệ miễn dịch bình thường bao gồm các giai đoạn lâm sàng sau: ủ bệnh, tiền triệu, phát ban và hồi phục. (Xem ‘Các giai đoạn nhiễm trùng’ ở dưới.)

  • Ủ bệnh: Thời gian ủ bệnh kéo dài từ 6 đến 21 ngày (trung vị là 13 ngày).
  • Tiền triệu: Giai đoạn tiền triệu kéo dài từ 2 đến 4 ngày, đặc trưng bởi sốt, mệt mỏi và chán ăn, sau đó là viêm kết mạc, sổ mũi (viêm mũi) và ho. Nếu có, hạt Koplik (hình 1) — một loại ban niêm mạc được coi là triệu chứng đặc trưng để chẩn đoán xác định sởi — thường xuất hiện khoảng 48 giờ trước khi phát ban da.
  • Phát ban: Ban đặc trưng xuất hiện khoảng 2 đến 4 ngày sau khi khởi phát sốt; đây là dạng ban sẩn đỏ, điển hình là bắt đầu từ mặt và đầu, sau đó lan dần xuống dưới (hình 3A-B). Ở giai đoạn sớm, các tổn thương có hiện tượng nhấn nhạt; ở giai đoạn muộn thì không. Ban biến mất sau 5 đến 6 ngày, mờ dần theo đúng trình tự xuất hiện.
  • Hồi phục: Tình trạng ho có thể kéo dài từ 1 đến 2 tuần sau khi hết sởi. Nếu sốt xuất hiện sau ngày thứ 3 hoặc thứ 4 của giai đoạn phát ban, cần nghi ngờ có biến chứng liên quan đến sởi.

Các biến thể lâm sàng − Các biến thể lâm sàng bao gồm sởi biến đổi và sởi không điển hình. Sởi biến đổi xảy ra ở những bệnh nhân đã có kháng thể kháng sởi nhưng không đủ để bảo vệ hoàn toàn. Sởi không điển hình xảy ra ở những bệnh nhân được tiêm vaccine virus bất hoạt trong giai đoạn 1963-1967 tại Hoa Kỳ, sau đó tiếp xúc với virus sởi hoang dại. (Xem ‘Các biến thể lâm sàng’ ở dưới.)

Chẩn đoán − Cần xem xét chẩn đoán sởi ở bệnh nhân có biểu hiện sốt kèm phát ban và các triệu chứng lâm sàng phù hợp. Tiếp cận chẩn đoán sẽ khác nhau tùy thuộc vào tỷ lệ lưu hành của bệnh sởi tại khu vực. (Xem ‘Chẩn đoán’ ở dưới.)

Tại các vùng có tỷ lệ lưu hành sởi thấp, các trường hợp nghi ngờ hoặc xác định mắc sởi phải được báo cáo cho cơ quan y tế địa phương để nhận hướng dẫn về thu thập bệnh phẩm chẩn đoán cũng như các biện pháp kiểm soát nhiễm khuẩn. Nhìn chung, chúng tôi khuyến cáo lấy phết họng hoặc phết tỵ hầu để làm RT-PCR và mẫu huyết thanh để xét nghiệm IgM sởi (và IgG nếu có thể). Nếu điều kiện lâm sàng cho phép, việc thu thập mẫu nước tiểu để làm RT-PCR cũng giúp cải thiện độ chính xác chẩn đoán. Không nhất thiết phải gửi bệnh phẩm để nuôi cấy virus vì thời gian chờ kết quả nuôi cấy dài và độ nhạy thấp. Trong trường hợp chẩn đoán không chắc chắn, có thể xác nhận bằng cách đánh giá cặp huyết thanh cấp tính và hồi phục để tìm IgG kháng virus sởi; hiệu giá kháng thể kháng sởi tăng ít nhất 4 lần là dấu hiệu của nhiễm trùng.

Tại các quốc gia có tỷ lệ lưu hành sởi cao, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) sử dụng IgM huyết thanh làm xét nghiệm tiêu chuẩn để xác nhận chẩn đoán sởi. Tuy nhiên, kết quả xét nghiệm IgM kháng sởi cần được diễn giải thận trọng vì đã có báo cáo về các trường hợp dương tính giả và âm tính giả. Nếu có sẵn xét nghiệm RT-PCR, có thể phối hợp với IgM huyết thanh để tăng độ chính xác.

Biến chứng

Biến chứng của sởi bao gồm các nhiễm trùng thứ phát như tiêu chảy và viêm phổi. Ở những bệnh nhân suy giảm miễn dịch, biến chứng có thể là viêm phổi tế bào khổng lồ và viêm não thể bao hàm sởi. Viêm não sởi nguyên phát cấp tính là một biến chứng hiếm gặp khác. Các nhóm có nguy cơ cao gặp biến chứng bao gồm người suy giảm miễn dịch, phụ nữ mang thai, người thiếu vitamin A hoặc tình trạng dinh dưỡng kém, và trẻ em hoặc người già. (Xem ‘Biến chứng’‘Các nhóm đối tượng có nguy cơ biến chứng’ ở dưới.)

Các hội chứng thần kinh sau nhiễm virus sởi bao gồm viêm não tủy cấp tính lan tỏa (ADEM) và viêm não toàn thể xơ hóa bán cấp (SSPE). ADEM là một bệnh hủy myelin xuất hiện trong giai đoạn hồi phục của nhiễm sởi, được cho là do phản ứng tự miễn sau nhiễm trùng. SSPE là một bệnh thoái hóa tiến triển của hệ thần kinh trung ương, thường xảy ra từ 7 đến 10 năm sau khi nhiễm sởi tự nhiên; cơ chế bệnh sinh có thể liên quan đến việc nhiễm dai dẳng một biến thể di truyền của virus sởi trong hệ thần kinh trung ương. (Xem ‘Viêm não tủy cấp tính lan tỏa’‘Viêm não toàn thể xơ hóa bán cấp’ ở dưới.)

Điều trị − Điều trị sởi chủ yếu là điều trị hỗ trợ; trong một số trường hợp, vitamin A và/hoặc ribavirin có thể mang lại hiệu quả.

Chăm sóc hỗ trợ − Liệu pháp hỗ trợ bao gồm thuốc hạ sốt, truyền dịch, điều trị các tình trạng bội nhiễm vi khuẩn và các biến chứng khác.

Vai trò của vitamin A − Đối với trẻ em mắc sởi nặng, chúng tôi đề nghị bổ sung vitamin A (Khuyến cáo 2C). Ngoài ra, đối với trẻ em ở những vùng hạn chế về nguồn lực mắc sởi (không phân biệt mức độ nặng), chúng tôi cũng đề nghị bổ sung vitamin A (Khuyến cáo 2C). Liều dùng được tóm tắt ở trên. (Xem ‘Vitamin A’ ở dưới.)

Vai trò của ribavirin − Đối với bệnh nhân dưới 12 tháng tuổi mắc viêm phổi do sởi, bệnh nhân từ 12 tháng tuổi trở lên mắc viêm phổi do sởi cần hỗ trợ thông khí, và bệnh nhân suy giảm miễn dịch mắc sởi, chúng tôi đề nghị điều trị bằng ribavirin (Khuyến cáo 2C). Liều dùng được tóm tắt ở trên. (Xem ‘Ribavirin’ ở dưới.)

Gói truy cập

Dùng thử

0 VND

  • Trải nghiệm một số nội dung trong thư viện.
  • Khôn cần đăng ký tài khoản.
  • Mua gói truy cập khi bạn sẵn sàng.

Gói truy cập một năm

389.000 VND

  • Truy cập toàn bộ thư viện mọi lúc, mọi nơi, và trên mọi thiết bị.
  • Nội dung cập nhật mỗi ngày.
  • Thanh toán bằng quét VietQR, nhanh chóng và an toàn.
  • Hỗ trợ trực tuyến.
Already a member? Log in here