TÓM TẮT
Dịch tễ học – Việc sử dụng trái phép gamma hydroxybutyrate (GHB) thường nhằm mục đích giải trí hoặc để đạt được một số lợi ích sức khỏe tự nhận, bao gồm tăng cường cơ bắp (bodybuilding) và điều trị mất ngủ, lo âu lan tỏa, lo âu xã hội và lệ thuộc rượu. Sử dụng GHB có thể dẫn đến tình trạng lệ thuộc nghiêm trọng. Khi ngưng thuốc có thể gây ra hội chứng cai, thậm chí dẫn đến tử vong. (Xem ‘Dịch tễ học’ ở dưới.)
Đặc điểm lâm sàng – Các triệu chứng cai GHB khởi phát nhanh, thường trong vòng 1 đến 6 giờ sau khi ngưng hoặc giảm liều. Các triệu chứng ban đầu bao gồm lo âu, run, kích động, vã mồ hôi, nhịp tim nhanh, nôn và mất ngủ. Tình trạng mất ngủ có thể diễn ra trầm trọng.
Trong vòng 24 giờ, các triệu chứng có thể tiến triển thành hội chứng cai nặng, với tình trạng kích động kháng trị, ảo giác, hoang tưởng và sảng. Trạng thái sảng có thể phát triển nhanh chóng và kéo dài đến 14 ngày. Diễn tiến của các triệu chứng thường không thể dự đoán trước. Sự mất ổn định hệ thần kinh tự chủ, nếu có, thường ở mức độ nhẹ đến trung bình. (Xem ‘Đặc điểm lâm sàng của hội chứng cai’ ở dưới.)
Kích động nặng và kháng trị làm tăng nguy cơ tăng thân nhiệt, tiêu cơ vân và đông máu rải rác trong lòng mạch. (Xem ‘Biến chứng’ ở dưới.)
Chẩn đoán – Chẩn đoán cai GHB dựa trên lâm sàng, căn cứ vào sự hiện diện của các triệu chứng điển hình ở người có tiền sử sử dụng GHB kéo dài hoặc thường xuyên. Nếu không có tiền sử này, lâm sàng cần đánh giá các nguyên nhân phổ biến khác gây sảng kèm hành vi tăng động, vì chẩn đoán phân biệt trong trường hợp này là rất rộng. (Xem ‘Chẩn đoán phân biệt’ ở dưới, “Sảng: Đánh giá và chẩn đoán” và “Tiếp cận chung trong ngộ độc thuốc ở người lớn”.)
Cận lâm sàng – Không có xét nghiệm cận lâm sàng nào là bắt buộc để chẩn đoán cai GHB. Các xét nghiệm được chỉ định dựa trên bệnh sử và thăm khám nhằm tìm kiếm các chẩn đoán thay thế hoặc biến chứng. Ở bệnh nhân cai GHB, chúng tôi thường thực hiện các xét nghiệm sau: điện giải đồ cơ bản, nitơ urê máu (BUN), creatinine, creatine kinase và tổng phân tích tế bào máu.
Vì việc dùng đồng thời nhiều loại chất là phổ biến ở những người sử dụng GHB, nên việc thực hiện các xét nghiệm cơ bản cho bệnh nhân ngộ độc là hợp lý, bao gồm: đo đường huyết mao mạch, định lượng acetaminophen và salicylate, điện tâm đồ và thử thai đối với phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ. (Xem ‘Đánh giá cận lâm sàng’ ở dưới.)
Xử trí – Xử trí cai GHB chủ yếu là điều trị hỗ trợ, sử dụng thuốc an thần để kiểm soát tình trạng kích động, sảng, tăng thân nhiệt và co giật, đồng thời theo dõi sát tình trạng ức chế hô hấp và các biến chứng tiềm tàng. Chúng tôi đề nghị các bác sĩ lâm sàng sử dụng benzodiazepine tác dụng kéo dài để kiểm soát các triệu chứng cai GHB (Khuyến cáo 2C). Chúng tôi chỉ định diazepam 10 mg tiêm tĩnh mạch (IV) mỗi 5 đến 10 phút; điều chỉnh liều cho đến khi bệnh nhân an thần. (Xem ‘Xử trí cai cấp tính’ và ‘Benzodiazepin’ ở dưới.)
Những bệnh nhân kích động cực độ có thể cần liều thuốc lớn hơn và tần suất dùng thuốc dày hơn. Có thể sử dụng liều rất cao, miễn là tình trạng hô hấp được theo dõi chặt chẽ và có khả năng đặt nội khí quản ngay lập tức nếu cần thiết. Các phương pháp điều trị thay thế và hỗ trợ bao gồm barbiturates, baclofen, propofol và dexmedetomidine. (Xem ‘Cai nặng kèm sảng’, ‘Barbiturat’, ‘Propofol’ và ‘Baclofen’ ở dưới.)
Địa điểm điều trị – Diễn tiến lâm sàng của hội chứng cai là không thể dự đoán trước, ngay cả khi được điều trị tối ưu. Vì lý do này, chúng tôi khuyến cáo những bệnh nhân cai mức độ nhẹ nên được điều trị nội trú hoặc điều trị ngoại trú dưới sự theo dõi chặt chẽ theo phác đồ giải độc GHB và có khả năng tiếp cận nhanh chóng với chăm sóc y tế cấp cứu. Bệnh nhân cai nặng cần được nhập viện tại đơn vị hồi sức tích cực (ICU). Việc giải độc được theo dõi chặt chẽ trong kế hoạch cai GHB ngoại trú có thể an toàn đối với những bệnh nhân dùng liều tích lũy hàng ngày thấp và không có nguy cơ cai nặng. (Xem ‘Xử trí cai cấp tính’ và ‘Giải độc ngoại trú cho hội chứng cai cấp tính’ ở dưới.)