Nhiễm phẩy khuẩn tả không thuộc nhóm huyết thanh O1/O139

TÓM TẮT

Dịch tễ họcVibrio cholerae là một loài có tính đa dạng cao, trong đó chỉ một nhóm nhỏ các chủng (thường là những chủng sinh độc tố tả và thuộc nhóm huyết thanh O1 và O139) gây ra bệnh tả. Các chủng V. cholerae khác (được nhóm chung là “V. cholerae không thuộc nhóm O1/O139″) thường có nguồn gốc từ môi trường và không gây bệnh hoặc chỉ gây bệnh nhẹ ở người. Tuy nhiên, các chủng này có thể gây nhiễm trùng nặng và có nguy cơ tử vong ở bệnh nhân suy giảm miễn dịch hoặc bệnh nhân có bệnh lý gan tiềm ẩn. (Xem ‘Dịch tễ học’ ở dưới.)

Chẩn đoán – Các chủng V. cholerae không thuộc nhóm O1/O139 mọc trên các môi trường nuôi cấy tiêu chuẩn dùng cho cấy vết thương và cấy máu. Việc phân lập từ phân thường đòi hỏi môi trường chọn lọc như thiosulfate-citrate-muối mật-sucrose (TCBS). Tác nhân này cũng có thể được định danh bằng các hệ thống chẩn đoán không phụ thuộc nuôi cấy, mặc dù nhìn chung các phương pháp này không phân biệt được các chủng V. cholerae có sinh độc tố tả hay không. (Xem ‘Chẩn đoán’ ở dưới.)

Các thể bệnh

  • Viêm dạ dày ruột (Xem ‘Viêm dạ dày ruột’ ở dưới)
    • Biểu hiện lâm sàng – Viêm dạ dày ruột thường liên quan đến việc ăn hải sản, đặc biệt là các loại động vật vỏ cứng còn sống hoặc nấu chưa chín; bệnh cũng có thể xảy ra do thực phẩm và nguồn nước bị ô nhiễm phân.
    • Điều trị – Đối với tiêu chảy nhẹ ở những cá thể khỏe mạnh, việc quản lý triệu chứng bằng bù nước có thể là đủ. Trong các trường hợp tiêu chảy nặng hơn, kháng sinh có thể giúp rút ngắn thời gian bệnh. Đối với bệnh nhân tiêu chảy nặng, chúng tôi đề nghị điều trị kinh nghiệm bằng doxycycline trong khi chờ kết quả kháng sinh đồ (Khuyến cáo 2C).
  • Nhiễm trùng vết thương (Xem ‘Nhiễm trùng vết thương’ ở dưới)
    • Biểu hiện lâm sàng – Nhiễm trùng vết thương xảy ra khi cơ thể tiếp xúc với nguồn nước có chứa vi khuẩn này.
    • Điều trị – Nhiễm trùng vết thương mức độ nhẹ ở những bệnh nhân không có bệnh lý nền nghiêm trọng thường đáp ứng tốt với chăm sóc vết thương tại chỗ. Tùy vào biểu hiện lâm sàng, những trường hợp này có thể cần hoặc không cần dùng kháng sinh đường uống (như tetracycline hoặc macrolide). Các trường hợp nhiễm trùng vết thương nặng hơn hoặc xảy ra trên vật chủ suy giảm miễn dịch có thể cần cắt lọc tích cực kết hợp với liệu pháp kháng sinh, tương tự như điều trị nhiễm khuẩn huyết mô tả dưới đây.
  • Nhiễm khuẩn huyết (Xem ‘Nhiễm khuẩn huyết’ ở dưới)
    • Biểu hiện lâm sàng – Nhiễm khuẩn huyết hầu như chỉ xảy ra ở những người có bệnh lý gan tiềm ẩn hoặc suy giảm miễn dịch, hậu quả của việc ăn hải sản nhiễm vi khuẩn hoặc là biến chứng từ một tình trạng nhiễm trùng vết thương.
    • Điều trị – Đối với bệnh nhân nhiễm khuẩn huyết và bệnh nhân nhiễm trùng vết thương có các yếu tố nguy cơ dẫn đến nhiễm khuẩn huyết (suy giảm miễn dịch hoặc bệnh lý gan), chúng tôi đề nghị điều trị kinh nghiệm bằng liệu pháp phối hợp: cephalosporin thế hệ ba cộng với tetracycline hoặc fluoroquinolone (Khuyến cáo 2C). Liệu pháp kháng sinh nên được điều chỉnh phù hợp dựa trên kết quả kháng sinh đồ.

Gói truy cập

Dùng thử

0 VND

  • Trải nghiệm một số nội dung trong thư viện.
  • Khôn cần đăng ký tài khoản.
  • Mua gói truy cập khi bạn sẵn sàng.

Gói truy cập một năm

389.000 VND

  • Truy cập toàn bộ thư viện mọi lúc, mọi nơi, và trên mọi thiết bị.
  • Nội dung cập nhật mỗi ngày.
  • Thanh toán bằng quét VietQR, nhanh chóng và an toàn.
  • Hỗ trợ trực tuyến.
Already a member? Log in here