TÓM TẮT
Tầm quan trọng lâm sàng – Bệnh nhân nhiễm HIV có tỷ lệ mắc tân sinh cổ tử cung giai đoạn tiền xâm lấn (ví dụ: tân sinh trong biểu mô cổ tử cung [CIN]) và giai đoạn xâm lấn cao hơn so với những người không nhiễm HIV. Đồng thời, bệnh nhân ung thư cổ tử cung có nhiễm HIV cũng đối mặt với nguy cơ tử vong chung cao hơn. (Xem ‘Giới thiệu’ ở dưới.)
Cơ chế bệnh sinh và phòng ngừa – Nhiễm human papillomavirus (HPV) và mức độ suy giảm miễn dịch (ví dụ: số lượng tế bào CD4 < 200 tế bào/microL) được coi là những yếu tố then chốt ảnh hưởng đến cả sự xuất hiện và mức độ nghiêm trọng của bệnh lý cổ tử cung. Tiền sử mắc CIN hoặc sùi mào gà không phải là chống chỉ định của việc tiêm vaccine HPV. (Xem ‘Cơ chế bệnh sinh’ và ‘Vai trò của vaccine HPV’ ở dưới.)
Vai trò của liệu pháp kháng retrovirus – Việc sử dụng liệu pháp kháng retrovirus ở bệnh nhân HIV giúp làm giảm nguy cơ mắc CIN và ung thư cổ tử cung. (Xem ‘Liệu pháp kháng retrovirus’ ở dưới.)
Tổn thương tiền xâm lấn
Xử trí – Nhìn chung, việc quản lý bệnh nhân có tổn thương tiền xâm lấn (ví dụ: CIN 1, 2 hoặc 3) có nhiễm HIV tương tự như những bệnh nhân không nhiễm HIV; chúng tôi tuân theo hướng dẫn đồng thuận của Hiệp hội Soi cổ tử cung và Bệnh học cổ tử cung Hoa Kỳ (ASCCP) trong xử trí bệnh nhân không nhiễm HIV. (Xem “Tân sinh trong biểu mô cổ tử cung: Xử trí”.)
- Đối với bệnh nhân CIN 1 hoặc CIN 2: Tùy thuộc vào kết quả tế bào học trước đó (ví dụ: tổn thương nội biểu mô vảy mức độ thấp [LSIL], tổn thương nội biểu mô vảy mức độ cao [HSIL]) và độ tuổi của bệnh nhân để lựa chọn phẫu thuật cắt bỏ hoặc theo dõi. (Xem ‘CIN 1’ và ‘CIN 2,3’ ở dưới.)
- Đối với bệnh nhân CIN 3: Có chỉ định điều trị. (Xem ‘CIN 2,3’ ở dưới.)
- Khi thực hiện điều trị cho CIN 1, 2 hoặc 3: Chúng tôi ưu tiên phẫu thuật cắt bỏ thay vì đốt lạnh. Phương pháp cắt bỏ thường được thực hiện bằng thủ thuật khoét chóp cổ tử cung bằng vòng điện (LEEP). (Xem ‘Cắt bỏ hoặc đốt’ ở dưới.)
Theo dõi – Cần tư vấn cho bệnh nhân HIV rằng tỷ lệ tái phát ở nhóm này thường cao hơn so với quần thể chung. Do đó, trong thực hành lâm sàng, chúng tôi theo dõi bằng cả tế bào học cổ tử cung (có hoặc không kết hợp xét nghiệm HPV) và soi cổ tử cung (chỉ định sinh thiết rộng rãi) với khoảng thời gian không quá 3 tháng và kéo dài vô thời hạn. (Xem ‘Theo dõi’ ở dưới.)
Ung thư xâm lấn
Phác đồ điều trị chuẩn cho ung thư cổ tử cung xâm lấn bao gồm phẫu thuật và/hoặc hóa xạ trị kết hợp, bất kể bệnh nhân có nhiễm HIV hay không (xem “Xử trí ung thư cổ tử cung giai đoạn sớm” và “Xử trí ung thư cổ tử cung tiến triển tại chỗ”):
- Đối với bệnh nhân giai đoạn sớm: Thực hiện phẫu thuật cắt bỏ. Với những bệnh nhân có nguy cơ tái phát trung bình hoặc cao, sẽ được chỉ định hóa xạ trị bổ trợ. (Xem “Xử trí ung thư cổ tử cung giai đoạn sớm”, phần ‘Liệu pháp bổ trợ’.)
- Đối với bệnh nhân tiến triển tại chỗ: Sử dụng hóa xạ trị bước một (không phẫu thuật). (Xem “Xử trí ung thư cổ tử cung tiến triển tại chỗ”, phần ‘Hóa xạ trị kết hợp với pembrolizumab’.)
- Đối với bệnh nhân di căn hoặc những người không có chỉ định điều trị tại chỗ: Sử dụng hóa trị. (Xem “Xử trí ung thư cổ tử cung tái phát hoặc di căn”, phần ‘Bệnh di căn’.)
Bệnh nhân kiểm soát HIV kém – Đối với những bệnh nhân kiểm soát HIV kém (ví dụ: tải lượng virus cao), không tuân thủ liệu pháp kháng retrovirus (ART) hoặc có số lượng CD4 thấp kéo dài, ngưỡng chỉ định xử trí CIN có thể thấp hơn và khoảng thời gian theo dõi có thể rút ngắn lại. Ưu tiên hàng đầu thường là tối ưu hóa điều trị nhiễm HIV (ví dụ: tái khởi động ART) và xử trí các tình trạng cấp tính khác liên quan đến HIV. (Xem ‘Bệnh nhân kiểm soát HIV kém’ ở dưới.)