Ung thư biểu mô nội mạc tử cung: Phân giai đoạn và điều trị phẫu thuật

TÓM TẮT

Đánh giá tiền phẫu

Trước khi điều trị, bệnh nhân ung thư nội mạc tử cung (EC) cần được đánh giá toàn diện, bao gồm khai thác bệnh sử (bao gồm tầm soát khuynh hướng di truyền đối với các bệnh ung thư (bảng 1)), khám thực thể và sinh thiết nội mạc tử cung để xác lập chẩn đoán. (Xem phần ‘Tiền sử và khám thực thể’ ở dưới.)

X-quang ngực nên được thực hiện trong đánh giá ban đầu để loại trừ di căn phổi. Chẩn đoán hình ảnh vùng bụng và chậu hiếm khi được chỉ định cho các thể EC tiến triển chậm, nhưng thường được sử dụng để loại trừ di căn trong các thể EC tiến triển nhanh. (Xem phần ‘Chẩn đoán hình ảnh’ ở dưới.)

Phân giai đoạn phẫu thuật – EC được phân giai đoạn thông qua phẫu thuật (bảng 2bảng 3). Quy trình phân giai đoạn bao gồm cắt tử cung toàn phần, cắt hai phần phụ (BSO) và nạo hạch bạch huyết. (Xem phần ‘Hệ thống phân giai đoạn’ ở dưới.)

Bệnh khu trú tại tử cung trên lâm sàng – Đối với phân giai đoạn EC ở những bệnh nhân có tổn thương dường như chỉ khu trú tại tử cung (dựa trên khám thực thể, có hoặc không có chẩn đoán hình ảnh vùng chậu), có chỉ định phẫu thuật và dự kiến quy trình có thể hoàn tất mà không cần chuyển sang mổ mở, chúng tôi khuyến cáo thực hiện phẫu thuật xâm lấn tối thiểu (MIS; phẫu thuật nội soi hoặc phẫu thuật robot) thay vì mổ mở (Khuyến cáo 1A). Cắt tử cung toàn phần nội soi kết hợp cắt hai phần phụ là lựa chọn ưu tiên cho hầu hết bệnh nhân; phẫu thuật robot được cân nhắc nếu phương pháp này giúp thực hiện MIS cho những bệnh nhân có nguy cơ cao phải chuyển sang mổ mở (ví dụ: bệnh nhân béo phì). (Xem phần ‘Bệnh khu trú tại tử cung trên lâm sàng’ ở dưới.)

Xâm lấn cổ tử cung trên lâm sàng – Đối với những bệnh nhân có dấu hiệu xâm lấn cổ tử cung, phương án điều trị có thể bao gồm: (1) cắt tử cung toàn diện kết hợp xạ trị hậu phẫu dựa trên các yếu tố giải phẫu bệnh, (2) cắt tử cung ngoài mạc kết hợp xạ trị hậu phẫu, hoặc (3) xạ trị bước một sau đó cắt tử cung ngoài mạc. (Xem phần ‘Xử trí phẫu thuật khi có xâm lấn cổ tử cung’ ở dưới.)

Bằng chứng di căn – Ở những bệnh nhân có bằng chứng lâm sàng hoặc hình ảnh học về di căn, phẫu thuật thường được thực hiện để xác lập chẩn đoán xác định, điều trị triệu chứng giảm nhẹ và/hoặc cải thiện kết quả ung thư học. Nhìn chung, các thủ thuật này được thực hiện thông qua đường mổ mở giữa bụng. Phẫu thuật giảm khối u được chỉ định cho một số bệnh nhân. (Xem phần ‘Bệnh giai đoạn tiến triển’ ở dưới.)

Tiếp cận đánh giá hạch bạch huyết – Đánh giá hạch cung cấp thông tin về tiên lượng và giúp xác định nhu cầu điều trị bổ trợ. Trong thực hành lâm sàng, chúng tôi thực hiện lập bản đồ hạch và nạo hạch gác (SLND) cho tất cả bệnh nhân EC. Tuy nhiên, phương pháp đánh giá hạch trong ung thư nội mạc tử cung vẫn còn nhiều tranh luận; các lựa chọn hợp lý khác (khi không có di căn hạch đại thể) bao gồm: không nạo hạch, chỉ nạo hạch hệ thống nếu nguy cơ di căn hạch vượt quá một ngưỡng nhất định, hoặc nạo hạch hệ thống cho tất cả bệnh nhân. Bệnh nhân cần được tư vấn về các lựa chọn và cùng phẫu thuật viên thảo luận để đưa ra quyết định chung về phương pháp nạo hạch. (Xem phần ‘Đánh giá hạch bạch huyết’ ở dưới.)

Phân giai đoạn lâm sàng – Phân giai đoạn lâm sàng có thể là lựa chọn phù hợp cho những bệnh nhân không thể dung nạp phẫu thuật hoặc có nguyện vọng bảo tồn khả năng sinh sản. Quá trình đánh giá ở những bệnh nhân này bao gồm khai thác bệnh sử, khám thực thể để đánh giá kích thước và độ di động của tử cung cũng như tìm bằng chứng di căn, sinh thiết nội mạc tử cung và chẩn đoán hình ảnh vùng bụng chậu. (Xem phần ‘Các tình huống lâm sàng đặc biệt’ ở dưới.)

Gói truy cập

Dùng thử

0 VND

  • Trải nghiệm một số nội dung trong thư viện.
  • Khôn cần đăng ký tài khoản.
  • Mua gói truy cập khi bạn sẵn sàng.

Gói truy cập một năm

389.000 VND

  • Truy cập toàn bộ thư viện mọi lúc, mọi nơi, và trên mọi thiết bị.
  • Nội dung cập nhật mỗi ngày.
  • Thanh toán bằng quét VietQR, nhanh chóng và an toàn.
  • Hỗ trợ trực tuyến.
Already a member? Log in here