TÓM TẮT
- Môi trường làm giãn tử cung – Hầu hết các thủ thuật nội soi buồng tử cung chỉ để chẩn đoán đơn thuần đều sử dụng môi trường làm giãn tử cung dạng lỏng hoặc khí để tạo tầm nhìn bao quát. (Xem ‘Đặc điểm của các môi trường làm căng’ và ‘Lựa chọn môi trường làm căng’ ở dưới.)
- Dung dịch chứa chất điện giải – Dung dịch chứa chất điện giải được sử dụng cho các thiết bị cắt nhỏ mô cơ học (thiết bị lấy mô) trong nội soi buồng tử cung và dao cắt nội soi buồng tử cung lưỡng cực. (Xem ‘Điện giải’ ở dưới.)
- Dung dịch nghèo chất điện giải – Các dung dịch nghèo chất điện giải, bao gồm glycine 1,5%, sorbitol 3% và mannitol 5%, được sử dụng cho các hệ thống đơn cực. (Xem ‘Nghèo điện giải’ ở dưới.)
- Môi trường khí – Carbon dioxide (CO2) là môi trường khí duy nhất được sử dụng trong nội soi buồng tử cung và chỉ dùng cho mục đích chẩn đoán. Việc sử dụng CO2 để làm giãn tử cung đòi hỏi phải có máy bơm khí chuyên dụng cho nội soi buồng tử cung. Tuyệt đối không sử dụng máy bơm khí nội soi ổ bụng vì có thể dẫn đến thuyên tắc khí. (Xem ‘Môi trường khí’ ở dưới.)
- Sự hấp thu môi trường làm giãn tử cung – Việc hấp thu quá mức bất kỳ môi trường lỏng nào cũng có thể dẫn đến các biến chứng do quá tải dịch. Biến chứng nghiêm trọng nhất là hiện tượng thấm dịch (intravasation) một lượng lớn dung dịch nghèo chất điện giải vào mạch máu, dẫn đến hạ natri máu. (Xem ‘Quá tải dịch’ ở dưới.)
- Theo dõi dịch – Đối với phụ nữ thực hiện nội soi buồng tử cung sử dụng môi trường làm giãn dạng lỏng, chúng tôi đề xuất sử dụng hệ thống theo dõi dịch tự động thay vì theo dõi thủ công (Khuyến cáo 2C). (Xem ‘Luồng vào và theo dõi’ ở dưới.)
Tiếp cận thực hiện thủ thuật:
- Môi trường nghèo chất điện giải – Đối với bệnh nhân thực hiện nội soi buồng tử cung sử dụng môi trường làm giãn là dung dịch nghèo chất điện giải:
- Đối với các thủ thuật có cắt bỏ lớp cơ tử cung, chúng tôi khuyến cáo tiêm vasopressin pha loãng vào cổ tử cung ngay trước khi tiến hành thủ thuật (Khuyến cáo 2B). (Xem ‘Phòng ngừa quá tải dịch’ ở dưới.)
- Chúng tôi đề xuất dừng thủ thuật khi lượng dịch thiếu hụt đạt 1000 mL (Khuyến cáo 2C). (Xem ‘Chẩn đoán và xử trí quá tải dịch’ ở dưới.)
- Dung dịch điện giải – Đối với bệnh nhân thực hiện nội soi buồng tử cung sử dụng dung dịch điện giải, chúng tôi đề xuất dừng thủ thuật khi lượng dịch thiếu hụt đạt 2500 mL đối với những người dưới 50 tuổi và không có bệnh lý phối hợp (Khuyến cáo 2C). Đối với các bệnh nhân khác, ngưỡng này phải được cá thể hóa tùy theo tình trạng tim mạch. (Xem ‘Chẩn đoán và xử trí quá tải dịch’ ở dưới.)
Các biến chứng tiềm tàng – Thuyên tắc khí (CO2 hoặc không khí) là những biến chứng hiếm gặp trong nội soi buồng tử cung. Tình trạng này có thể xảy ra khi sử dụng CO2 để làm giãn tử cung, hoặc khi các bọt khí lọt vào trong quá trình sử dụng môi trường lỏng. Nếu nghi ngờ thuyên tắc khí, cần dừng thủ thuật ngay lập tức, xả hết khí/dịch trong tử cung, loại bỏ nguồn gây khí/dịch và tiến hành điều trị hỗ trợ. (Xem ‘Thuyên tắc khí’ ở dưới.)