TÓM TẮT
Tỷ lệ lưu hành – Human pegivirus (HPgV-1), trước đây được gọi là virus viêm gan G (HGV) và GB virus type C (GBV-C), phân bố trên toàn cầu. Ước tính khoảng 1/6 dân số thế giới dương tính với HPgV-1 và khoảng 750 triệu người từng có tình trạng nhiễm virus huyết (Xem ‘Dịch tễ học’ ở dưới).
Vi rút học – HPgV-1 là virus RNA sợi đơn dương thuộc họ Flaviviridae. Đây là virus có màng bọc, hình cầu, đường kính khoảng 50 nm. Dựa trên sự đa dạng di truyền, có 7 kiểu gen đã được xác định với sự phân bố khác nhau trên thế giới (Xem ‘Kiểu gen’ và ‘Thành phần và cấu trúc’ ở dưới).
Đường lây truyền – HPgV-1 lây truyền qua truyền máu nhiễm virus, quan hệ tình dục và lây truyền từ mẹ sang con. Tình trạng nhiễm trùng hoạt động được chẩn đoán bằng cách phát hiện RNA của virus trong huyết thanh bằng phản ứng chuỗi polymerase (PCR). Tuy nhiên, độ nhạy và độ đặc hiệu của xét nghiệm này hiện chưa được xác định (Xem ‘Lây truyền’ và ‘Xét nghiệm chẩn đoán’ ở dưới).
Diễn tiến tự nhiên – Quá trình nhiễm HPgV-1 thường kéo dài trên 6 tháng và tự đào thải trong hơn 50% trường hợp nhiễm trong vòng hai năm. Sự xuất hiện của các kháng thể kháng glycoprotein vỏ virus chính (E2) có liên quan đến việc loại bỏ virus khỏi máu (Xem ‘Diễn tiến tự nhiên và ý nghĩa lâm sàng’ ở dưới).
Ý nghĩa lâm sàng
- Phần lớn các bằng chứng cho thấy HPgV-1 không gây viêm gan ở người. Tuy nhiên, tình trạng nhiễm virus huyết có liên quan đến việc tăng nguy cơ mắc lymphoma (Xem ‘Vai trò trong gây bệnh gan’ ở dưới).
- Ở bệnh nhân HIV, nhiễm HPgV-1 huyết có liên quan đến tốc độ tiến triển bệnh chậm hơn và tỷ lệ tử vong thấp hơn (Xem ‘Bệnh nhân đồng nhiễm HIV’ ở dưới).
- Ở bệnh nhân đồng nhiễm HIV và virus viêm gan C (HCV), nhiễm HPgV-1 huyết có liên quan đến việc giảm đáng kể tỷ lệ bệnh lý gan liên quan đến HCV (Xem ‘Bệnh nhân đồng nhiễm HCV’ ở dưới).