Cơ chế, nguyên nhân và đánh giá hạ huyết áp tư thế đứng

TÓM TẮT

Dịch tễ học – Hạ huyết áp tư thế đứng thường gặp hơn ở người cao tuổi, ảnh hưởng đến 24% cá thể trên 65 tuổi (Xem ‘Dịch tễ học và yếu tố nguy cơ’ ở dưới).

Nguyên nhân gây hạ huyết áp tư thế đứng – Một số tình trạng bệnh lý có thể gây ra hoặc góp phần dẫn đến hạ huyết áp tư thế đứng và hạ huyết áp sau ăn, bao gồm:

  • Rối loạn phản xạ áp thụ quan do các bệnh lý thoái hóa thần kinh, bệnh lý thần kinh ngoại biên hoặc các thay đổi liên quan đến tuổi tác (xem ‘Rối loạn phản xạ áp thụ quan’ ở dưới).
  • Giảm thể tích tuần hoàn do dùng thuốc lợi tiểu, xuất huyết hoặc nôn mửa (xem ‘Giảm thể tích tuần hoàn’ ở dưới).
  • Thuốc hạ huyết áp và các loại thuốc khác (bảng 1), đặc biệt là ở người cao tuổi (xem ‘Thuốc’ ở dưới).
  • Tăng huyết áp mạn tính, thông qua cơ chế rối loạn phản xạ áp thụ quan và hiện tượng lợi niệu do tăng huyết áp về đêm (xem ‘Tăng huyết áp’ ở dưới).

Đặc điểm lâm sàng – Các triệu chứng của hạ huyết áp tư thế đứng thường xuất hiện khi bệnh nhân thay đổi sang tư thế đứng. Triệu chứng cũng có thể xảy ra sau các thay đổi tư thế khác (ví dụ: sau khi ăn, tiếp xúc với nhiệt độ cao hoặc gắng sức). Các biểu hiện bao gồm yếu toàn thân, chóng mặt hoặc choáng váng, nhìn mờ hoặc tối sầm mặt mày; trong những trường hợp nặng có thể dẫn đến mất ý thức (ngất). Bệnh nhân cũng có thể ghi nhận tình trạng chậm chạp về nhận thức, đau đầu vùng chẩm và đau cổ. Một số bệnh nhân không có triệu chứng (Xem ‘Triệu chứng’ ở dưới).

Phân biệt với các tình trạng liên quan – Một số bệnh nhân hạ huyết áp tư thế đứng do rối loạn phản xạ áp thụ quan có thể xuất hiện triệu chứng sau bữa ăn (hạ huyết áp sau ăn), trong khi những người khác có thể tăng huyết áp khi nằm hoặc thậm chí khi đứng. Tăng huyết áp khi nằm là một biến chứng thường gặp gây hạn chế việc điều trị hạ huyết áp tư thế đứng và có thể dẫn đến tổn thương cơ quan đích dài hạn. Ngược lại, việc điều trị tăng huyết áp khi nằm có thể làm trầm trọng thêm tình trạng hạ huyết áp tư thế đứng (Xem ‘Hạ huyết áp sau ăn’, ‘Tăng huyết áp khi nằm’‘Tăng huyết áp tư thế đứng’ ở dưới).

Đối với bệnh nhân ngất phản xạ (hay còn gọi là ngất phế vị), ngoài thời điểm xảy ra cơn cấp, đáp ứng huyết áp khi đứng là bình thường. Bệnh nhân mắc hội chứng nhịp tim nhanh tư thế đứng (POTS) có các triệu chứng tương tự hạ huyết áp tư thế đứng nhưng khi thăm khám không ghi nhận tình trạng hạ huyết áp tư thế (Xem ‘Các tình trạng liên quan’ ở dưới).

Chẩn đoán – Hạ huyết áp tư thế đứng được chẩn đoán khi, sau 1 đến 3 phút đứng yên (sau 5 phút nằm nghỉ), ghi nhận một hoặc cả hai tiêu chuẩn sau (xem ‘Chẩn đoán’ ở dưới):

  • Huyết áp tâm thu giảm từ 20 mmHg trở lên.
  • Huyết áp tâm trương giảm từ 10 mmHg trở lên.

Kỹ thuật đánh giá huyết áp tư thế – Để đánh giá hạ huyết áp tư thế đứng, huyết áp thường được đo theo trình tự (xem ‘Kỹ thuật đo huyết áp’ ở dưới):

  1. Đầu tiên, đo khi bệnh nhân ở tư thế nằm sau 5 phút nghỉ ngơi.
  2. Sau đó, đo sau khi bệnh nhân đã đứng trong vòng 1 đến 3 phút.

Có thể cân nhắc các kỹ thuật thay thế cho những bệnh nhân có triệu chứng nhưng không đạt ngưỡng chẩn đoán trong lần xét nghiệm ban đầu, bao gồm:

  • Theo dõi huyết áp liên tục (plethysmography) – Dành cho bệnh nhân có triệu chứng tư thế xuất hiện tức thì và ngắn hạn.
  • Nghiệm pháp bàn nghiêng kết hợp đo huyết áp lặp lại – Dành cho bệnh nhân có triệu chứng tư thế xuất hiện muộn.

Đánh giá để xác định nguyên nhân – Đối với hầu hết bệnh nhân, chúng tôi thực hiện khám thần kinh, xét nghiệm cơ bản (hematocrit, điện giải, nitơ urê máu, creatinine, glucose) và đo điện tâm đồ 12 chuyển đạo để đánh giá các rối loạn thần kinh tiềm ẩn, thiếu máu, mất nước hoặc bệnh tim. Cần rà soát danh mục thuốc để xác định các tác nhân gây bệnh tiềm tàng (bảng 1). (Xem ‘Xét nghiệm cho hầu hết bệnh nhân’ ở dưới).

Đối với bệnh nhân có đặc điểm lâm sàng của bệnh lý thần kinh, chúng tôi thực hiện đo dẫn truyền thần kinh và điện cơ, sau đó làm thêm các xét nghiệm bổ sung dựa trên kết quả. Bệnh nhân có hội chứng Parkinson cần được đánh giá bệnh Parkinson và các tình trạng liên quan. Với những bệnh nhân chưa rõ nguyên nhân gây hạ huyết áp tư thế đứng, có thể chỉ định thực hiện các nghiệm pháp tự chủ (ví dụ: theo dõi liên tục nhịp tim và dòng máu kết hợp nghiệm pháp bàn nghiêng và/hoặc nghiệm pháp Valsalva) để xác định rối loạn phản xạ áp thụ quan (Xem ‘Xét nghiệm bổ sung’ ở dưới).

Biến chứng – Hạ huyết áp tư thế đứng có thể gây té ngã (có hoặc không kèm theo ngất) và các bệnh lý liên quan. Hạ huyết áp tư thế đứng mạn tính mức độ nặng có thể gây tàn phế, đi kèm với lo âu và trầm cảm. Đây cũng là một yếu tố nguy cơ dẫn đến suy giảm nhận thức, các biến cố tim mạch và tăng tỷ lệ tử vong do mọi nguyên nhân (Xem ‘Biến chứng’ ở dưới).

Gói truy cập

Dùng thử

0 VND

  • Trải nghiệm một số nội dung trong thư viện.
  • Khôn cần đăng ký tài khoản.
  • Mua gói truy cập khi bạn sẵn sàng.

Gói truy cập một năm

389.000 VND

  • Truy cập toàn bộ thư viện mọi lúc, mọi nơi, và trên mọi thiết bị.
  • Nội dung cập nhật mỗi ngày.
  • Thanh toán bằng quét VietQR, nhanh chóng và an toàn.
  • Hỗ trợ trực tuyến.
Already a member? Log in here