Đo lường thành phần cơ thể ở trẻ em

TÓM TẮT

Mục tiêu – Đánh giá thành phần cơ thể có thể bao gồm đo trực tiếp hoặc gián tiếp lượng mỡ, khối lượng cơ nạc, khối lượng xương, nước và đôi khi là phân bố mỡ (hình 1). Việc lựa chọn phương pháp tùy thuộc vào thành phần cần đánh giá, mục đích đo lường (phục vụ lâm sàng hay nghiên cứu) và mức độ chính xác yêu cầu (bảng 1). (Xem thêm mục ‘Tại sao cần đo thành phần cơ thể?’‘Những thành phần nào của cơ thể được đo lường?’ ở dưới).

Chăm sóc lâm sàng thường quy – Bách phân vị của chỉ số khối cơ thể (BMI) là phương pháp phổ biến và thiết thực trong lâm sàng để ước tính mức độ tích tụ mỡ ở trẻ từ 2 tuổi trở lên. Phương pháp này đủ chính xác để đánh giá các nguy cơ sức khỏe liên quan đến mỡ. Tuy nhiên, BMI thiếu chính xác vì không phân biệt được khối lượng mỡ và khối lượng nạc, đồng thời các bách phân vị dựa trên quy chuẩn quần thể. Bách phân vị BMI có xu hướng đánh giá quá cao mức độ tích tụ mỡ ở trẻ dưới 6 tuổi, trẻ thấp hoặc trẻ có khối lượng cơ tương đối cao. (Xem thêm mục ‘Chỉ số khối cơ thể’ ở dưới).

Bách phân vị cân nặng theo chiều dài thường được sử dụng cho trẻ dưới 2 tuổi, có giá trị lâm sàng và những hạn chế tương tự. (Xem thêm mục ‘Cân nặng theo chiều dài’ ở dưới).

Công cụ lâm sàng cho các đối tượng bệnh nhân chọn lọc – Các phương pháp sau đây có thể hữu ích trên lâm sàng cho một số nhóm bệnh nhân cụ thể:

  • Suy dinh dưỡng – Để đánh giá tình trạng gầy mòn (giảm khối lượng mỡ và/hoặc cơ), đo nếp gấp da và chu vi vòng cánh tay trên (MUAC) là những công cụ sàng lọc hữu ích. (Xem thêm mục ‘Suy dinh dưỡng: Các phép đo tình trạng gầy mòn’ ở dưới).
  • Béo phì – Phân bố mỡ vùng bụng là yếu tố dự báo bổ sung cho các nguy cơ sức khỏe liên quan đến béo phì, bao gồm cả hội chứng chuyển hóa. Các phép đo mỡ bụng thiết thực về mặt lâm sàng bao gồm chu vi vòng eo (bảng 2), tỷ lệ eo/hông (WHR) và tỷ lệ eo/chiều cao. (Xem thêm mục ‘Béo phì: Các phép đo khối lượng và phân bố mỡ’ ở dưới).
  • Khoáng hóa xương – Phương pháp đo hấp thụ tia X năng lượng kép (DXA) là kỹ thuật lâm sàng chính để theo dõi mật độ khoáng xương ở trẻ có các yếu tố nguy cơ gây thiếu xương, bao gồm tiếp xúc kéo dài với glucocorticoid, các rối loạn hấp thu hoặc bệnh lý xương di truyền. (Xem thêm mục ‘Bệnh lý xương: Các phép đo mật độ xương’ ở dưới).
  • Phân tích trở kháng điện sinh học (BIA) – Phương pháp này còn một số hạn chế (đặc biệt liên quan đến tình trạng hydrat hóa) nhưng có ưu điểm là nhanh, không xâm lấn và chi phí tương đối thấp. Vì những lợi ích này, hiện có nhiều nỗ lực phát triển các phương trình có độ chính xác đủ cao để áp dụng trong chăm sóc lâm sàng thường quy.

Các phương pháp nghiên cứu – Các phương pháp dùng để đo thành phần cơ thể cho mục đích nghiên cứu bao gồm DXA, cộng hưởng từ định lượng (QMR), MRI, CT, siêu âm và đo thể tích bằng sự thay thế khí (air-displacement plethysmography). Việc lựa chọn phương pháp tùy thuộc vào thành phần cơ thể cần đo, nhu cầu đánh giá phân bố mỡ và mức độ chính xác yêu cầu. (Xem thêm mục ‘Các phương pháp dùng trong nghiên cứu lâm sàng’ ở dưới).

Gói truy cập

Dùng thử

0 VND

  • Trải nghiệm một số nội dung trong thư viện.
  • Khôn cần đăng ký tài khoản.
  • Mua gói truy cập khi bạn sẵn sàng.

Gói truy cập một năm

389.000 VND

  • Truy cập toàn bộ thư viện mọi lúc, mọi nơi, và trên mọi thiết bị.
  • Nội dung cập nhật mỗi ngày.
  • Thanh toán bằng quét VietQR, nhanh chóng và an toàn.
  • Hỗ trợ trực tuyến.
Already a member? Log in here