TÓM TẮT
Các bước tiếp theo sẽ tùy thuộc vào đáp ứng điều trị của bệnh nhân.
- Cải thiện đáng kể hoặc hết triệu chứng – Những bệnh nhân có triệu chứng cải thiện được hướng dẫn về các hoạt động cần tránh và các bài tập kéo giãn cần thực hiện nếu các điểm kích hoạt (trigger points) tiềm ẩn tái hoạt động hoặc khi xuất hiện các kích thích gây đau vùng chậu (ví dụ: nhiễm trùng đường tiết niệu), nhằm tránh rơi vào cơ chế co cứng bảo vệ – yếu tố có thể góp phần gây ra bệnh lý. Ví dụ, cần tránh rặn khi đi tiểu hoặc co thắt cơ sàn chậu liên tục vào cuối lần đi tiểu để cố gắng “ép hết” nước tiểu ra ngoài, hoặc tình trạng co cứng hệ thống khi gặp bất kỳ tình trạng đau nào vì điều này sẽ gây phản xạ co thắt cơ sàn chậu.
- Không cải thiện hoặc cải thiện hạn chế – Những bệnh nhân không đáp ứng với vật lý trị liệu sàn chậu sau 8 đến 10 tuần cần được đánh giá lại, có thể thông qua các xét nghiệm bổ sung hoặc chẩn đoán hình ảnh 32. Ví dụ, những bệnh nhân có triệu chứng tiết niệu đi kèm và ít cải thiện sau 10 lần điều trị có thể được chỉ định nội soi bàng quang hoặc chụp cộng hưởng từ để loại trừ túi thừa niệu đạo (xem “Túi thừa niệu đạo ở nữ giới”). Bệnh nhân có bất thường về hệ khung xương có thể hưởng lợi từ các kỹ thuật nắn chỉnh xương khớp (osteopathic manipulation).
TỔNG KẾT VÀ KHUYẾN NGHỊ
- Mô tả – Vật lý trị liệu sàn chậu bao gồm nhiều phương pháp điều trị được thực hiện bởi các chuyên gia vật lý trị liệu có trình độ chuyên sâu nhằm quản lý tình trạng rối loạn chức năng sàn chậu. Rối loạn chức năng sàn chậu là một thuật ngữ chung mô tả các tình trạng như sa tạng chậu, són phân hoặc són tiểu, bàng quang tăng hoạt (dạng ướt hoặc khô), các triệu chứng đường tiết niệu dưới (LUTS) và đau vùng chậu mãn tính, bao gồm cả đau cơ mạc vùng chậu. Hội chứng đau cơ mạc vùng chậu là một rối loạn đau liên quan đến hệ thống cơ sàn chậu, mô liên kết vùng chậu và màng cơ liên quan. (Xem phần ‘Giới thiệu’ ở dưới.)
- Đánh giá – Bệnh nhân được chẩn đoán mắc hội chứng đau cơ mạc vùng chậu sẽ được đánh giá toàn diện về cấu trúc, mô mềm, sàn chậu và lập bản đồ đau. Ba khu vực chính trong đánh giá bao gồm: hệ cơ xương khớp, các cơ sàn chậu và mô mềm vùng chậu. (Xem phần ‘Đánh giá bệnh nhân’ ở dưới.)
- Tiếp cận phục hồi chức năng – Các chương trình điều trị được cá thể hóa để giải quyết các rối loạn chức năng cụ thể được ghi nhận trong quá trình đánh giá. Các rối loạn về cấu trúc chủ yếu được điều trị bằng chương trình tập luyện trị liệu cá nhân hóa, trong khi rối loạn mô mềm được xử lý bằng các kỹ thuật thủ công nhằm giải tỏa sự hạn chế của mô liên kết, các điểm kích hoạt và hạn chế về thần kinh. (Xem phần ‘Phục hồi chức năng’ ở dưới.)
- Kết quả – Chúng tôi đề xuất vật lý trị liệu sàn chậu để giảm đau cơ mạc vùng chậu (Khuyến cáo 2C). Dữ liệu quan sát cho thấy 50% đến 70% bệnh nhân đạt được sự cải thiện rõ rệt hoặc hết hoàn toàn triệu chứng và nguy cơ gây hại thấp. (Xem phần ‘Kết quả’ ở dưới.)
- Chăm sóc theo dõi – Những bệnh nhân có triệu chứng cải thiện được hướng dẫn về các hoạt động cần tránh và các bài tập kéo giãn để thực hiện nếu các điểm kích hoạt tiềm ẩn tái hoạt động hoặc khi xuất hiện kích thích gây đau vùng chậu (ví dụ: nhiễm trùng đường tiết niệu) nhằm tránh tái phát triệu chứng. Những bệnh nhân không cải thiện triệu chứng sẽ được đánh giá lại. (Xem phần ‘Theo dõi’ ở dưới.)