TÓM TẮT
Định nghĩa – Viêm kết mạc độc là tình trạng tổn thương trực tiếp các mô nhãn cầu do tác động của một tác nhân dùng tại chỗ, có thể là dược chất hoặc chất bảo quản trong thuốc. Các biểu hiện lâm sàng của bệnh tương tự như các phản ứng do dị ứng, do đó dễ bị nhầm lẫn với các bệnh lý dị ứng mắt. (Xem thêm ‘Giới thiệu’, ‘Nguyên nhân’ và ‘Cơ chế bệnh sinh’ ở dưới.)
Dịch tễ học – Viêm kết mạc độc thường gặp nhất ở những bệnh nhân điều trị dài hạn bằng nhiều loại thuốc nhỏ mắt có chứa chất bảo quản, điển hình là các thuốc điều trị glôcôm. (Xem thêm ‘Dịch tễ học’ và ‘Nguyên nhân’ ở dưới.)
Biểu hiện lâm sàng – Sung huyết kết mạc là dấu hiệu phổ biến nhất (hình 1). Bệnh nhân có thể sưng nề mi mắt và xuất hiện trợt biểu mô giác mạc. (Xem thêm ‘Biểu hiện lâm sàng’ ở dưới.)
Chẩn đoán – Bệnh sử điển hình là tình trạng mắt cải thiện trong giai đoạn đầu điều trị, nhưng sau đó các triệu chứng trở nên trầm trọng hơn khi tiếp tục sử dụng tác nhân gây bệnh. (Xem thêm ‘Chẩn đoán’ ở dưới.)
Chẩn đoán phân biệt – Cần phân biệt với các thể dị ứng mắt khác, phản ứng quá mẫn với thuốc nhãn khoa, viêm kết mạc do thuốc (conjunctivitis medicamentosa), bệnh khô mắt (DED) và giai đoạn sớm của pemphigoid niêm mạc mắt thể sẹo (OCP). (Xem thêm ‘Chẩn đoán phân biệt’ ở dưới, “Viêm kết mạc dị ứng: Biểu hiện lâm sàng và chẩn đoán”, “Viêm kết giác mạc mùa xuân”, “Viêm kết giác mạc dị ứng cơ địa” và “Viêm kết mạc nhú khổng lồ”.)
Xử trí – Điều trị bao gồm ngừng sử dụng (các) tác nhân nghi ngờ gây bệnh, đồng thời chuyển sang các liệu pháp dùng tại chỗ không chứa chất bảo quản hoặc chuyển sang dùng thuốc đường uống. (Xem thêm ‘Điều trị’ ở dưới.)