TÓM TẮT
Phân loại triệu chứng – Bại não (CP) đặc trưng bởi những bất thường về trương lực cơ, vận động và tư thế. CP thường được phân loại dựa trên các kiểu khiếm khuyết vận động, nhưng cũng có thể phân loại theo mức độ suy giảm chức năng, các vùng cơ thể liên quan hoặc nguyên nhân căn bản. Việc sử dụng các hệ thống phân loại giúp mô tả chi tiết mức độ và đặc điểm triệu chứng, từ đó tối ưu hóa quá trình chăm sóc cho người bệnh. (Xem thêm ‘Phân loại’ ở dưới.)
Dấu hiệu lâm sàng sớm – Các dấu hiệu của CP ở trẻ nhũ nhi và thời thơ ấu bao gồm bất thường về trương lực vận động hoặc chậm đạt các cột mốc phát triển vận động (bảng 4A-B), cũng như các phản xạ phát triển bất thường hoặc sự hiện diện của các tình trạng kèm theo như khó khăn khi ăn, chậm phát triển thể chất hoặc động kinh. (Xem thêm ‘Dấu hiệu sớm của bại não’ ở dưới.)
Khiếm khuyết vận động – Các bất thường vận động thường gặp trong CP bao gồm co cứng, loạn vận động và thất điều. Yếu cơ, giảm trương lực cơ và bất thường cảm giác cũng có thể đi kèm. (Xem thêm ‘Các đặc điểm vận động thường gặp’ ở dưới.)
Các kiểu hình vận động thường gặp – CP thường được phân loại theo các kiểu đặc trưng của hoạt động vận động, trương lực cơ và/hoặc tư thế bất thường. Sau 18 đến 24 tháng tuổi, các dấu hiệu và triệu chứng thường định hướng rõ ràng đến một kiểu hình vận động cụ thể của CP (bảng 1). (Xem thêm ‘Kiểu hình vận động’ ở dưới.)
Bại não thể co cứng – Thể co cứng là kiểu khiếm khuyết vận động phổ biến nhất, chiếm tới 85% các trường hợp bại não. Bệnh nhân thể co cứng có các đặc điểm lâm sàng của hội chứng neuron vận động trên, bao gồm tăng trương lực cơ, tăng phản xạ, phản xạ lòng bàn chân duỗi và rung giật cơ (clonus). Bại não thể co cứng có thể được phân loại chi tiết thành thể liệt hai chi dưới (diplegic), liệt nửa người (hemiplegic) hoặc liệt tứ chi (quadriplegic) tùy theo vùng phân bố của trương lực cơ bất thường (hình 1). (Xem thêm ‘Các phân thể co cứng’ ở dưới.)
Bại não thể loạn vận động – Thể loạn vận động đặc trưng bởi tình trạng loạn vận động (dyskinesia) chiếm ưu thế, chẳng hạn như loạn trương lực cơ (dystonia) hoặc múa vờn – múa uốn (choreoathetosis). Thể này chiếm khoảng 15% các trường hợp bại não. (Xem thêm ‘Các phân thể loạn vận động’ ở dưới.)
Bại não thể thất điều – Thể thất điều đặc trưng bởi sự mất phối hợp trong vận động và lời nói, thường liên quan đến rối loạn chức năng vận động lan tỏa. Bại não thể thất điều hiếm gặp; những trẻ có biểu hiện này cần được đánh giá để tìm kiếm các nguyên nhân gây thất điều tiềm tàng khác. (Xem thêm ‘Phân thể thất điều’ ở dưới.)
Các tình trạng kèm theo – Khiếm khuyết vận động trong CP thường đi kèm với các rối loạn chức năng não khác, có thể ảnh hưởng đến nhận thức, thị giác, thính giác, ngôn ngữ, cảm giác vỏ não, sự chú ý, sự tỉnh táo và hành vi. Ngoài ra, nhiều trẻ có các bệnh lý hệ thống kèm theo bao gồm chậm phát triển thể chất, rối loạn tiêu hóa, chảy nước dãi (sialorrhea), bệnh lý phổi, rối loạn cơ xương khớp, giảm mật độ xương, rối loạn tiết niệu, đau mãn tính và rối loạn giấc ngủ. (Xem thêm ‘Các tình trạng kèm theo’ ở dưới.)
Nhìn chung, trẻ có khiếm khuyết vận động càng nặng thì càng có nguy cơ cao mắc các bệnh đồng mắc.