TÓM TẮT
Sàng lọc định kỳ – Rối loạn giấc ngủ ở trẻ em rất phổ biến và có thể gây ảnh hưởng đến kết quả học tập cũng như hành vi ban ngày. Các lâm sàng viên nên đưa các câu hỏi về giấc ngủ vào quy trình đánh giá sức khỏe định kỳ cho trẻ (bảng 2). (Xem phần ‘Sàng lọc định kỳ các vấn đề về giấc ngủ’ ở dưới.)
Khai thác bệnh sử chi tiết về giấc ngủ – Một bệnh sử giấc ngủ có cấu trúc giúp đánh giá lịch trình ngủ-thức, những khó khăn khi bắt đầu hoặc duy trì giấc ngủ, tình trạng ngáy, các cử động hoặc hành vi bất thường trong khi ngủ và các biểu hiện ban ngày (ví dụ: buồn ngủ, kém tập trung hoặc dễ kích động). Bệnh sử cần bao gồm chi tiết về thời gian và tần suất xảy ra vấn đề, diễn tiến khởi phát (đột ngột, dần dần, ngắt quãng) và mức độ thay đổi giữa các đêm. (Xem phần ‘Than phiền chính về giấc ngủ và bệnh sử giấc ngủ’ ở dưới.)
Nhật ký giấc ngủ, bảng câu hỏi và ghi hình video có thể được sử dụng để bổ trợ cho bệnh sử. (Xem phần ‘Nhật ký giấc ngủ, bảng câu hỏi và ghi hình video’ ở dưới.)
Thông tin từ bệnh sử có thể được dùng để phân loại vấn đề vào một (hoặc nhiều) nhóm sau:
Mất ngủ – Khó khăn khi bắt đầu hoặc duy trì giấc ngủ (mất ngủ) ở trẻ nhỏ thường có nguồn gốc từ hành vi. Những vấn đề này có thể được xác định bằng cách đánh giá lịch trình ngủ, môi trường ngủ và thói quen trước khi đi ngủ. Các nguyên nhân hoặc yếu tố góp phần khác ở mọi nhóm tuổi bao gồm các tác nhân gây căng thẳng tâm lý xã hội, các bệnh lý tiềm ẩn, lo âu hoặc trầm cảm. Các rối loạn giấc ngủ đặc hiệu có thể gây mất ngủ khi khởi đầu bao gồm hội chứng chân không yên (RLS) và rối loạn pha ngủ-thức chậm, thường gặp ở thanh thiếu niên. (Xem phần ‘Khó khăn khi bắt đầu hoặc duy trì giấc ngủ’ ở dưới và “Các vấn đề giấc ngủ do hành vi ở trẻ em”.)
Buồn ngủ ban ngày – Các nguyên nhân phổ biến nhất gây buồn ngủ ban ngày bao gồm thời gian ngủ đêm không đủ so với nhu cầu ngủ trung bình theo độ tuổi (hình 1), vệ sinh giấc ngủ kém và tác dụng phụ của thuốc. Các biện pháp cải thiện vệ sinh giấc ngủ được tóm tắt trong các bảng (bảng 1A-B). Các nguyên nhân ít gặp hơn nhưng quan trọng bao gồm chứng ngủ rũ, ngưng thở khi ngủ do tắc nghẽn (OSA), chứng ngủ nhiều vô căn và rối loạn cử động chi chu kỳ (PLMD). (Xem phần ‘Buồn ngủ ban ngày quá mức’ ở dưới.)
Ngáy hoặc rối loạn hô hấp – OSA ở trẻ em điển hình biểu hiện bằng tình trạng ngáy, tiếng thở bất thường khác, các vấn đề về hành vi ban ngày hoặc buồn ngủ ban ngày quá mức. Nếu xuất hiện các triệu chứng này, hoặc nếu trẻ có phì đại VA/amidan đáng kể hoặc béo phì, cần thực hiện đánh giá lâm sàng chi tiết hơn (sơ đồ 1). (Xem phần ‘Ngưng thở khi ngủ do tắc nghẽn’ ở dưới và “Đánh giá nghi ngờ ngưng thở khi ngủ do tắc nghẽn ở trẻ em”.)
Cử động hoặc hành vi bất thường – Các cử động hoặc hành vi bất thường có thể quan sát thấy trong nhiều rối loạn giấc ngủ khác nhau (bảng 4), bao gồm (xem phần ‘Cử động hoặc hành vi trong khi ngủ’ ở dưới):
- Các cử động nhịp nhàng của đầu, cổ hoặc thân mình khi ngủ thường gặp ở trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ, thường mang tính chất phát triển (sinh lý). Những cử động này phổ biến nhất ở trẻ sơ sinh và trẻ tập đi, thường tự hết khi trẻ lên 5 tuổi. (Xem phần ‘Cử động chu kỳ hoặc nhịp nhàng’ ở dưới.)
- RLS và cử động chi chu kỳ trong khi ngủ tương đối phổ biến ở trẻ em và có liên quan đến việc giảm khả năng tập trung. Trẻ mắc RLS thường có nồng độ ferritin huyết thanh giảm, cho thấy dự trữ sắt thấp; trong trường hợp này, tình trạng bệnh có thể cải thiện khi bổ sung sắt. (Xem phần ‘Cử động chu kỳ hoặc nhịp nhàng’ ở dưới.)
- Các rối loạn hành vi giấc ngủ (mộng du, thức giấc lú lẫn và hoảng sợ ban đêm) là lành tính và phổ biến nhất ở trẻ nhỏ, nhưng đôi khi xảy ra ở trẻ lớn hơn hoặc thanh thiếu niên. Chẩn đoán phân biệt bao gồm co giật ban đêm. So với rối loạn hành vi giấc ngủ, co giật ban đêm có khả năng tái phát nhiều lần trong cùng một đêm, có các hành vi rập khuôn và xảy ra ngẫu nhiên trong đêm (thay vì tập trung ở một phần ba đầu tiên của đêm) (bảng 7). (Xem phần ‘Các cử động hoặc hành vi phức tạp’ ở dưới.)
Các xét nghiệm bổ trợ – Ở một số trẻ, có thể cần đánh giá bằng đa ký giấc ngủ qua đêm (PSG) để xác định một rối loạn giấc ngủ cụ thể (ví dụ: OSA hoặc ngủ rũ) hoặc để chuẩn liều điều trị bằng áp lực đường thở dương. Xét nghiệm đo độ tiềm ngủ nhiều lần (MSLT) là một đánh giá khách quan tại phòng thí nghiệm đối với tình trạng buồn ngủ ban ngày quá mức, chủ yếu dùng để đánh giá bệnh nhân nghi ngờ ngủ rũ. PSG không được chỉ định thường quy cho trẻ mắc mất ngủ, rối loạn nhịp sinh học giấc ngủ, rối loạn hành vi giấc ngủ không biến chứng hoặc các vấn đề giấc ngủ do hành vi. (Xem phần ‘Các xét nghiệm bổ trợ’ ở dưới.)