Viêm khớp vô căn thiếu nhi thể đa khớp: Biểu hiện lâm sàng, chẩn đoán và biến chứng

TÓM TẮT

Dịch tễ học – Tuổi khởi phát của viêm khớp thiếu niên đa khớp (polyarticular JIA) có phân bố hai đỉnh. Đỉnh khởi phát đầu tiên nằm trong khoảng từ 2 đến 5 tuổi, và đỉnh thứ hai từ 10 đến 14 tuổi. Bệnh phổ biến ở nữ nhiều hơn nam ở mọi lứa tuổi. (Xem thêm ‘Dịch tễ học’ ở dưới.)

Biểu hiện lâm sàng – Biểu hiện lâm sàng của viêm khớp thiếu niên đa khớp rất đa dạng và thường phân thành các thể dựa trên tuổi khởi phát:

  • Ở trẻ dưới 10 tuổi: Viêm khớp thiếu niên đa khớp thường khởi phát tương tự như thể thiểu khớp, với một hoặc hai khớp bị ảnh hưởng. Diễn tiến bệnh thường âm thầm cho đến khi một đợt nhiễm trùng đi kèm kích hoạt khiến các triệu chứng tăng mạnh. Sau đó, bệnh tiến triển nhanh và không ngừng, lan ra ảnh hưởng đến 5 khớp trở lên trong vòng 6 tháng đầu kể từ khi khởi phát. Tổn thương khớp thường có tính chất đối xứng.
  • Ở trẻ lớn và thanh thiếu niên: Thường có khởi phát viêm nhanh ở nhiều khớp, bao gồm cả nhiều khớp nhỏ ở bàn tay và bàn chân, trong vòng 2 đến 3 tháng đầu khi khởi phát bệnh.

(Xem thêm ‘Biểu hiện lâm sàng’ ở dưới.)

Cận lâm sàng – Không có xét nghiệm cận lâm sàng đặc hiệu để chẩn đoán viêm khớp thiếu niên đa khớp. Tuy nhiên, bệnh nhân thường có kháng thể kháng nhân (ANA) dương tính, tốc độ lắng máu (ESR) tăng (≥ 40 mm/giờ), có thể kèm theo thiếu máu (nồng độ hemoglobin ≤ 11 g/dL) và tăng gamma globulin huyết. Các tự kháng thể khác thường không xuất hiện ở bệnh nhân viêm khớp thiếu niên đa khớp. (Xem thêm ‘Cận lâm sàng’ ở dưới.)

Chẩn đoán – Chẩn đoán được xác lập ở trẻ có viêm khớp trên 4 khớp trong vòng 6 tháng đầu của bệnh và đã loại trừ các nguyên nhân gây đa khớp khác. (Xem thêm ‘Chẩn đoán’ ở dưới.)

Chẩn đoán phân biệt – Chẩn đoán phân biệt bao gồm một số bệnh lý có tính chất tự giới hạn hoặc mạn tính, bao gồm các thể viêm khớp thiếu niên khác (ví dụ: thể vảy nến, thể hệ thống, thể liên quan đến viêm điểm bám gân), viêm khớp phản ứng, lupus ban đỏ hệ thống (SLE), viêm mạch hệ thống, sarcoidosis, bệnh viêm ruột (IBD), loạn sản sụn tăng trưởng và tự miễn do minocycline. (Xem thêm ‘Chẩn đoán phân biệt’ ở dưới.)

Biến chứng – Các biến chứng bao gồm viêm khớp gây tàn phế, viêm màng bồ đào và loãng xương. Những biến chứng này có thể đòi hỏi các liệu pháp điều trị bổ sung. (Xem thêm ‘Biến chứng’ ở dưới.)

Gói truy cập

Dùng thử

0 VND

  • Trải nghiệm một số nội dung trong thư viện.
  • Khôn cần đăng ký tài khoản.
  • Mua gói truy cập khi bạn sẵn sàng.

Gói truy cập một năm

389.000 VND

  • Truy cập toàn bộ thư viện mọi lúc, mọi nơi, và trên mọi thiết bị.
  • Nội dung cập nhật mỗi ngày.
  • Thanh toán bằng quét VietQR, nhanh chóng và an toàn.
  • Hỗ trợ trực tuyến.
Already a member? Log in here