Khối máu tụ ở ruột
Hiện chưa có đủ dữ liệu về các khối máu tụ ở ruột sau sinh để đưa ra hướng dẫn xử trí cụ thể. Việc điều trị nên căn cứ vào việc khối máu tụ ở ruột là tổn thương đơn độc hay xuất hiện trong bệnh cảnh máu tụ sau phúc mạc.
Nếu khối máu tụ ở ruột là tổn thương đơn độc, không lan rộng và được chẩn đoán trong quá trình đánh giá nghi ngờ tắc ruột, chúng tôi khuyến cáo xử trí bệnh nhân theo các nguyên tắc điều trị tắc ruột non hoặc tắc trực tràng-đại tràng cơ học. (Xem “Xử trí tắc ruột non ở người lớn”.)
TÓM TẮT
Khuyến khích vệ sinh vùng tầng sinh môn bằng cách ngâm mông (Sitz bath) và rửa nhẹ nhàng bằng nước muối sinh lý sau phẫu thuật âm hộ. Cần chỉ định giảm đau đầy đủ.
Chúng tôi đề nghị bệnh nhân kiêng quan hệ tình dục, không đặt tampon hoặc thuốc đặt âm đạo trong 4 đến 6 tuần, tùy thuộc vào mức độ tổn thương, để tránh làm ảnh hưởng đến quá trình lành mô. Để phòng ngừa hoại tử do tì đè tại vùng cơ quan sinh dục ngoài đang sưng, nên hướng dẫn bệnh nhân nằm nghiêng hoặc nằm ngửa là chủ yếu.
Khi xuất viện, bệnh nhân cần được tư vấn liên hệ ngay với bác sĩ điều trị nếu xuất hiện sốt, đau mới hoặc đau tăng dần, hoặc chảy máu.
TỔNG KẾT VÀ KHUYẾN CÁO
- Nguyên nhân – Hầu hết các khối máu tụ thời kỳ hậu sản phát sinh từ các vết rách chảy máu liên quan đến thủ thuật hỗ trợ sinh hoặc rạch tầng sinh môn; tuy nhiên, máu tụ cũng có thể xảy ra do tổn thương tự phát của mạch máu dù không có vết rách hay vết mổ ở mô xung quanh. (Xem ‘Giới thiệu’ ở dưới.)
- Vị trí giải phẫu – Các vị trí thường gặp nhất của máu tụ hậu sản là âm hộ, âm đạo/vùng cạnh âm đạo và khoang sau phúc mạc. (Xem ‘Các vị trí thường gặp’ ở dưới.)
- Chẩn đoán – Chẩn đoán hầu hết các khối máu tụ hậu sản dựa trên các triệu chứng điển hình và kết quả khám lâm sàng. (Xem ‘Biểu hiện lâm sàng và chẩn đoán’ ở dưới.)
- Biểu hiện lâm sàng – Đa số các khối máu tụ khởi phát với triệu chứng đau trong vòng 24 giờ sau sinh. Sờ thấy khối hoặc cảm giác áp lực vùng trực tràng là những dấu hiệu và triệu chứng thường gặp khác. Mất ổn định huyết động do mất máu vào ổ bụng và vùng chậu thường là dấu hiệu đầu tiên của máu tụ sau phúc mạc. (Xem ‘Biểu hiện lâm sàng và chẩn đoán’ ở dưới.)
- Điều trị – Việc điều trị phụ thuộc vào kích thước và vị trí của khối máu tụ.
- Không lan rộng – Chúng tôi đề nghị điều trị bảo tồn (chườm lạnh, giảm đau) đối với các khối máu tụ nhỏ và không lan rộng (Khuyến cáo 2C).
- Lan rộng – Chúng tôi đề nghị can thiệp phẫu thuật kịp thời đối với các khối máu tụ đang lan rộng (Khuyến cáo 2C).
- Chảy máu sau phúc mạc – Phẫu thuật mở bụng là cần thiết trong hầu hết các trường hợp chảy máu sau phúc mạc hậu sản, vì đa số bệnh nhân không ổn định về huyết động và nhiều trường hợp liên quan đến vỡ tử cung hoặc mổ lấy thai, cả hai trường hợp này đều cần mở bụng để khâu phục hồi tử cung. (Xem ‘Máu tụ sau phúc mạc’ ở dưới.)
- Nút mạch động mạch chọn lọc – Chúng tôi đề nghị sử dụng nút mạch động mạch chọn lọc như một phương pháp thay thế cho can thiệp phẫu thuật ở những bệnh nhân ổn định về huyết động hoặc khi phẫu thuật không kiểm soát được chảy máu từ khối máu tụ hậu sản (Khuyến cáo 2C). (Xem ‘Xử trí’ ở dưới.)