TÓM TẮT
Tổng quan – Hệ thống dẫn truyền của thai nhi phát triển hoàn thiện về mặt chức năng vào tuần thứ 16 của thai kỳ, thông thường sẽ tạo ra nhịp tim đều với tần số từ 110 đến 160 lần/phút (bpm). Loạn nhịp tim thai được định nghĩa là những sai lệch so với các thông số này. Tình trạng này gặp trong khoảng 1 đến 2% các thai kỳ và có tiềm năng gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe thai nhi. (Xem phần ‘Giới thiệu’ ở dưới.)
Các trường hợp loạn nhịp kéo dài cần can thiệp điều trị ít gặp hơn nhiều. Khi tình trạng này xảy ra gần ngày dự sinh, việc cho sinh để quản lý loạn nhịp theo phác đồ sơ sinh tiêu chuẩn có thể được ưu tiên hơn là điều trị qua nhau thai. Những trường hợp nhịp nhanh mức độ nhẹ, tự hết hoặc nhịp chậm (<200 lần/phút) có thể không cần điều trị.
Bảng tóm tắt đơn giản về loạn nhịp tim thai nhi theo tần số, dạng nhịp và kết quả siêu âm tim được trình bày trong (bảng 2). (Xem phần ‘Sàng lọc’ ở dưới.)
Sàng lọc – Đánh giá nhịp tim thai (FHR) trong mỗi lần khám thai cùng với việc quan sát bốn buồng tim và đường thoát thất trên siêu âm tiêu chuẩn là các thành phần thường quy trong chăm sóc tiền sản và đủ để sàng lọc loạn nhịp tim thai trong hầu hết các thai kỳ.
Các thai kỳ có nguy cơ cao gặp loạn nhịp tim thai (ví dụ: có tự kháng thể kháng kháng nguyên Ro/SSA và La/SSB, tiền sử mang thai có block tim bẩm sinh, hoặc thai nhi có bệnh tim bẩm sinh bao gồm thất xoay trái – L-looped ventricles) cần được sàng lọc tích cực hơn bằng siêu âm tim định kỳ. (Xem phần ‘Sàng lọc’ ở dưới.)
Nhịp không đều – Các nhịp không đều do block nhịp ngắt quãng thường được dung nạp tốt và hiếm khi tiến triển thành loạn nhịp nghiêm trọng. Ngoại tâm thu nhĩ (PACs; còn được gọi là nhịp nhĩ sớm, phức bộ trên thất sớm hoặc nhịp trên thất sớm) là nguyên nhân phổ biến nhất gây nhịp không đều và thường lành tính. Cần đặc biệt lưu tâm đến các nhịp ngoại tâm thu có nguồn gốc từ thất, kéo dài, xuất hiện >3 đến 5 nhịp/phút, hoặc đi kèm với FHR <120 hoặc >160 lần/phút. (Xem phần ‘Nhịp không đều’ ở dưới.)
Nhịp nhanh
Nhịp nhanh xoang – Các đợt nhịp nhanh xoang ngắn (thường lên đến 200 lần/phút) liên quan đến cử động của thai nhi là hiện tượng bình thường. Nhịp nhanh xoang kéo dài đòi hỏi phải đánh giá cả mẹ và thai nhi vì đây có thể là dấu hiệu của nhiều rối loạn ở mẹ hoặc thai nhi. (Xem phần ‘Nhịp nhanh xoang (160 đến 200 lần/phút)’ ở dưới.)
Nhịp nhanh trên thất – Nhịp nhanh trên thất (SVT) là loại nhịp nhanh thường gặp nhất ở thai nhi. Việc chuyển gửi đến chuyên gia tim mạch bào thai được chỉ định để chẩn đoán chính xác và đánh giá nhịp, chức năng cũng như cấu trúc tim. Tiếp cận chung trong quản lý SVT được trình bày trong (bảng 3). Nhìn chung, FHR từ 200 đến 220 lần/phút ít có khả năng gây ra hậu quả về huyết động, do đó không nhất thiết phải can thiệp ngay lập tức. Đối với thai nhi có SVT >220 lần/phút trong hơn 50% thời gian hoặc có phù thai, điều trị qua nhau thai thường được chỉ định. Chúng tôi đề xuất digoxin là thuốc lựa chọn hàng đầu thay vì flecainide hoặc sotalol (Khuyến cáo 2C). Nếu tình trạng thai nhi không cải thiện dù nồng độ digoxin ở mẹ đạt mức thích hợp (1 đến 2 ng/mL), các thuốc khác (ví dụ: flecainide, sotalol, amiodarone) sẽ được cân nhắc sử dụng bổ sung hoặc thay thế digoxin, tùy vào tình huống lâm sàng. (Xem phần ‘Nhịp nhanh trên thất’ ở dưới.)
Nhịp chậm – FHR chậm có thể do nhịp chậm xoang, block các nhịp ngoại tâm thu, hội chứng QT kéo dài, block tim độ hai hoặc block tim hoàn toàn (độ ba). Siêu âm tiêu chuẩn được chỉ định để loại trừ các bệnh tim nặng và phù thai. Xét nghiệm máu mẹ tìm kháng thể kháng Ro/SSA và kháng La/SSB cũng được thực hiện. Việc quản lý tùy thuộc vào loại loạn nhịp cụ thể. (Xem phần ‘Nhịp chậm’ ở dưới.)
Quá trình chuyển dạ và sinh – Thai nhi có loạn nhịp kéo dài vẫn có thể chuyển dạ và sinh ngả âm đạo, miễn là tình trạng sức khỏe của thai nhi được theo dõi sát sao. Cần có sự hỗ trợ từ các chuyên gia nhi khoa, sơ sinh và/hoặc tim mạch tại thời điểm sinh. (Xem phần ‘Quản lý quá trình chuyển dạ và sinh’ ở dưới.)