Chứng tiểu đêm ở người lớn: Biểu hiện lâm sàng, đánh giá và xử trí

TÓM TẮT

Định nghĩa – Tiểu đêm được định nghĩa là tình trạng thức giấc để đi tiểu trong khoảng thời gian ngủ chính. Cần phân biệt tiểu đêm với tiểu không tự chủ ban đêm (rò rỉ nước tiểu không tự chủ trong khi ngủ). Tiểu đêm là triệu chứng phổ biến của nhiều bệnh lý lâm sàng gây ra tình trạng đi tiểu lượng ít hoặc tăng lượng nước tiểu vào ban đêm (bảng 1). Nhiều bệnh lý góp phần gây ra tiểu đêm, bao gồm suy tim và các trạng thái phù khác, rối loạn giấc ngủ, các bệnh lý về bàng quang, tuyến tiền liệt và tác dụng của thuốc. (Xem thêm phần ‘Định nghĩa’‘Biểu hiện lâm sàng’ ở dưới.)

Đánh giá – Việc đánh giá tình trạng tiểu đêm nên tập trung vào thói quen uống nước, các triệu chứng tiết niệu khác, cũng như các dấu hiệu và triệu chứng của những nguyên nhân tiềm ẩn. (Xem thêm phần ‘Tiền sử và khám thực thể’ ở dưới.)

Nhật ký đi tiểu (mẫu 1) giúp xác định xem tiểu đêm là do giảm dung tích bàng quang, đa niệu ban đêm hay do các cơ chế khác. Đo lượng nước tiểu tồn dư sau đi tiểu (PVR) hỗ trợ chẩn đoán tắc nghẽn đường ra bàng quang hoặc bí tiểu. Khi có điều kiện, siêu âm đo PVR được ưu tiên hơn so với đặt thông tiểu vì giảm nguy cơ nhiễm trùng và tạo sự thoải mái hơn cho bệnh nhân. (Xem thêm phần ‘Nhật ký đi tiểu’‘Xét nghiệm lâm sàng’ ở dưới.)

Chúng tôi chỉ định xét nghiệm hóa sinh cơ bản và phân tích nước tiểu cho tất cả bệnh nhân. Cấy nước tiểu sẽ được thực hiện nếu nghi ngờ có nhiễm trùng. (Xem thêm phần ‘Xét nghiệm cận lâm sàng’ ở dưới.)

Xử trí ban đầu – Mục tiêu điều trị tiểu đêm là giảm mức độ phiền toái của các triệu chứng và giảm số lần đi tiểu đêm. Những bệnh nhân không cảm thấy phiền vì tình trạng tiểu đêm thì không cần điều trị.

Các biện pháp ban đầu bao gồm điều trị các bệnh lý nền và thay đổi lối sống (ví dụ: điều chỉnh thời gian uống nước sang sớm hơn trong ngày, giảm lượng muối nếu ăn quá nhiều, vệ sinh giấc ngủ và ngừng sử dụng thuốc lợi tiểu vào ban đêm) (sơ đồ 1). (Xem thêm phần ‘Triển khai các chiến lược không dùng thuốc’ ở dưới.)

Đối với tất cả bệnh nhân có triệu chứng tiểu đêm gây phiền toái, chúng tôi đề xuất thực hiện các bài tập cơ sàn chậu (PFME) như một phần của kế hoạch xử trí ban đầu (Khuyến cáo 2B). Các chương trình PFME giúp giảm tiểu đêm và cải thiện chất lượng cuộc sống liên quan đến triệu chứng. Nếu việc tiếp cận PFME bị hạn chế do chi phí hoặc sự sẵn có, các chiến lược ức chế mót tiểu (bảng 4) là một lựa chọn thay thế hợp lý mà bệnh nhân có thể tự thực hiện. (Xem thêm phần ‘Bài tập cơ sàn chậu’ ở dưới.)

Điều trị nội khoa – Chúng tôi chỉ định điều trị bằng thuốc cho những bệnh nhân vẫn còn triệu chứng sau khi đã áp dụng các biện pháp thay đổi lối sống và hành vi ban đầu (sơ đồ 2). Vì liệu pháp dùng thuốc chỉ mang lại sự giảm nhẹ về số lần đi tiểu đêm và có tiềm năng gây ra các tác dụng phụ nghiêm trọng, nhiều bệnh nhân có thể lựa chọn không điều trị bằng thuốc.

Bệnh nhân nam có triệu chứng liên quan đến tăng sản tuyến tiền liệt lành tính (BPH) – Ở nam giới bị tiểu đêm kèm theo các triệu chứng của BPH, chúng tôi điều trị bằng thuốc đối vận thụ thể alpha-1 adrenergic (bảng 5). Thuốc đối vận thụ thể alpha-1 adrenergic hiệu quả đối với các triệu chứng đường tiết niệu dưới do BPH, mặc dù hiệu quả đối với tình trạng tiểu đêm chỉ ở mức khiêm tốn. (Xem thêm phần ‘Liệu pháp ban đầu với thuốc đối vận thụ thể alpha-1 adrenergic’ ở dưới và “Điều trị nội khoa tăng sản tuyến tiền liệt lành tính”.)

Nếu tình trạng tiểu đêm vẫn tồn tại dù đã điều trị bằng thuốc đối vận thụ thể alpha-1 adrenergic, bước tiếp theo chúng tôi sẽ phối hợp thêm các thuốc giãn bàng quang (ví dụ: thuốc vận động beta-3 [ưu tiên] hoặc thuốc kháng muscarinic). Nếu có bằng chứng về phì đại tuyến tiền liệt (bảng 6), chúng tôi phối hợp thêm thuốc ức chế 5-alpha reductase (5-ARI). Liệu pháp phối hợp 5-ARI và thuốc đối vận alpha-1 giúp cải thiện các triệu chứng đường tiết niệu dưới do BPH; tuy nhiên hiệu quả phối hợp đối với tiểu đêm là khiêm tốn. (Xem thêm phần ‘Điều trị nội khoa bổ sung’ ở dưới và “Điều trị nội khoa tăng sản tuyến tiền liệt lành tính”.)

Bệnh nhân nữ sau mãn kinh – Đối với phụ nữ sau mãn kinh, chúng tôi đề xuất liệu pháp estrogen âm đạo tại chỗ (bảng 7) đơn trị liệu hoặc phối hợp với các liệu pháp khác (Khuyến cáo 2C). Mặc dù bằng chứng về hiệu quả còn hạn chế, phương pháp này an toàn, dung nạp tốt và ít tác dụng phụ. (Xem thêm phần ‘Phụ nữ sau mãn kinh’ ở dưới.)

Các bệnh nhân khác – Ở phụ nữ tiền mãn kinh và nam giới không có triệu chứng liên quan đến BPH, chúng tôi đề xuất điều trị thử bằng thuốc kháng muscarinic hoặc thuốc vận động beta-3 (bảng 8). Mặc dù cả hai đều là những lựa chọn hiệu quả, chúng tôi ưu tiên thuốc vận động beta-3 (nếu có sẵn) vì chúng không gây ra nguy cơ tác dụng phụ kháng cholinergic hoặc sa sút trí tuệ liên quan đến thuốc kháng muscarinic. (Xem thêm phần ‘Thuốc giãn bàng quang cho các bệnh nhân khác’ ở dưới.)

Desmopressin trong điều trị tiểu đêm kháng trị – Đối với bệnh nhân dưới 65 tuổi vẫn còn tình trạng tiểu đêm dù đã thử các loại thuốc khác, chúng tôi đề xuất điều trị thử bằng desmopressin (Khuyến cáo 2C). Trong các thử nghiệm ngẫu nhiên, desmopressin giúp giảm nhẹ tần suất đi tiểu ban đêm; tuy nhiên, có nhiều chống chỉ định đối với liệu pháp này do nguy cơ gây hạ natri máu nặng. (Xem thêm phần ‘Desmopressin’ ở dưới.)

Gói truy cập

Dùng thử

0 VND

  • Trải nghiệm một số nội dung trong thư viện.
  • Khôn cần đăng ký tài khoản.
  • Mua gói truy cập khi bạn sẵn sàng.

Gói truy cập một năm

389.000 VND

  • Truy cập toàn bộ thư viện mọi lúc, mọi nơi, và trên mọi thiết bị.
  • Nội dung cập nhật mỗi ngày.
  • Thanh toán bằng quét VietQR, nhanh chóng và an toàn.
  • Hỗ trợ trực tuyến.
Already a member? Log in here