TÓM TẮT
Nguyên nhân – Bí tiểu cấp (AUR) là tình trạng cấp cứu tiết niệu thường gặp nhất, xuất hiện ở nam giới nhiều hơn nữ giới. Tăng sản lành tính tuyến tiền liệt (BPH) là bệnh lý nền phổ biến nhất ở nam giới, tuy nhiên còn nhiều nguyên nhân khác bao gồm các rối loạn thần kinh, chấn thương và nhiễm trùng. Các loại thuốc cũng thường là yếu tố liên quan (bảng 1). (Xem thêm mục ‘Dịch tễ học’ và ‘Nguyên nhân’ ở dưới.)
Khi nào nghi ngờ AUR – Bệnh nhân thường nhập viện với tình trạng đột ngột không thể đi tiểu, thường đi kèm cảm giác khó chịu vùng bụng dưới và/hoặc vùng trên xương mu (SP). Những bệnh nhân bí tiểu mạn tính có thể không đau bụng nhưng có triệu chứng của tiểu tràn. Bệnh nhân sa sút trí tuệ hoặc các dạng suy giảm nhận thức khác có thể biểu hiện bằng sự thay đổi trạng thái tâm thần cấp tính. (Xem thêm mục ‘Khi nào nghi ngờ bí tiểu cấp’ ở dưới.)
Chẩn đoán – Chẩn đoán được xác lập khi ghi nhận lượng nước tiểu tồn dư >300 mL qua siêu âm bàng quang hoặc >200 mL qua đặt thông tiểu.
Nếu quy trình có thể thực hiện nhanh chóng, siêu âm bàng quang là lựa chọn ưu tiên cho những bệnh nhân không trong tình trạng quá cấp thiết vì đây là phương pháp không xâm lấn, tạo sự thoải mái cho bệnh nhân và tránh việc giải áp bàng quang không cần thiết nếu kết quả bình thường.
Đối với những bệnh nhân có tiền sử và khám lâm sàng gợi ý mạnh mẽ chẩn đoán AUR, bao gồm khó chịu vùng trên xương mu và/hoặc sờ thấy cầu bàng quang, có thể tiến hành đặt thông tiểu ngay; phương pháp này vừa có giá trị chẩn đoán vừa có giá trị điều trị. (Xem thêm mục ‘Chẩn đoán nhanh tình trạng bí tiểu’ ở dưới.)
Giải áp bàng quang cấp cứu – Xử trí ban đầu đối với AUR là giải áp bàng quang nhanh chóng, thường bằng thông tiểu lưu. Chống chỉ định đặt thông tiểu niệu đạo ở những bệnh nhân vừa phẫu thuật tiết niệu (ví dụ: phẫu thuật cắt tuyến tiền liệt tận gốc hoặc tạo hình niệu đạo). Thông tiểu trên xương mu (SP) có thể cần thiết khi có tắc nghẽn khiến không thể đặt thông niệu đạo, hoặc được ưu tiên cho những bệnh nhân dự kiến cần thông tiểu kéo dài. (Xem thêm mục ‘Giải áp bàng quang’ ở dưới.)
Điều trị bổ sung theo nguyên nhân – Việc điều trị bổ sung phụ thuộc vào nguyên nhân gây ra AUR. (Xem thêm mục ‘Đánh giá nguyên nhân AUR’ ở dưới.)
Ở nam giới bị BPH hoặc nghi ngờ BPH, điều trị bao gồm sử dụng thuốc đối kháng thụ thể alpha-1 adrenergic bắt đầu từ thời điểm đặt thông tiểu lần đầu. Liệu pháp phối hợp cho BPH, bao gồm bổ sung thuốc ức chế 5-alpha reductase, được chỉ định để ngăn ngừa tái phát AUR và ngăn chặn sự tiến triển của các triệu chứng BPH. (Xem thêm mục ‘Tăng sản lành tính tuyến tiền liệt’ ở dưới.)
Nếu không xác định được nguyên nhân gây AUR, bệnh nhân nên được chuyển đến chuyên khoa tiết niệu hoặc phụ khoa để đánh giá chuyên sâu. (Xem thêm mục ‘Điều trị bổ sung theo nguyên nhân’ ở dưới.)
Hạn chế nhu cầu nhập viện – Đa số bệnh nhân có thể được quản lý ngoại trú sau khi đã giải áp bàng quang. Chỉ định nhập viện cho những bệnh nhân có nhiễm khuẩn huyết từ đường tiết niệu, tổn thương thận cấp, hoặc tắc nghẽn liên quan đến bệnh lý ác tính hoặc chèn ép tủy sống. (Xem thêm mục ‘Chỉ định nhập viện’ ở dưới.)
Tập đi tiểu (thử rút thông tiểu) – Thời gian lưu thông tiểu tùy thuộc vào nguyên nhân gây AUR và kết quả của lần tập đi tiểu.
Thời điểm tập đi tiểu – Những bệnh nhân AUR dự kiến sẽ hồi phục sau điều trị (ví dụ: nhiễm trùng đường tiết niệu, bí tiểu sau phẫu thuật, tác dụng của thuốc) có thể tập đi tiểu ngay sau khi tình trạng bệnh lý nền được xử lý. Chúng tôi đợi ít nhất một đến hai tuần mới thực hiện tập đi tiểu cho những bệnh nhân có nguyên nhân ít có khả năng hồi phục trong vòng một tuần (ví dụ: chấn thương tủy sống, hẹp niệu đạo) và/hoặc bí tiểu cấp trên nền mạn. Thời gian này cho phép bàng quang được giải áp điều trị và bắt đầu liệu pháp nội khoa.
Thời điểm tối ưu để tập đi tiểu ở bệnh nhân AUR do BPH vẫn chưa chắc chắn và có sự khác biệt trong thực hành lâm sàng. Đối với những bệnh nhân này, chúng tôi đề xuất bắt đầu điều trị nội khoa và trì hoãn tập đi tiểu ít nhất 7 đến 10 ngày sau khi đặt thông tiểu để tăng khả năng thành công (Khuyến cáo 2C). Tuy nhiên, ở những bệnh nhân không có thể tích nước tiểu tồn dư cao (ví dụ: ≤800 mL), có thể cân nhắc tập đi tiểu sớm sau ba ngày bắt đầu điều trị nội khoa.
Chúng tôi hướng dẫn tự thông tiểu tại thời điểm tập đi tiểu nếu bệnh nhân hoặc người chăm sóc có khả năng thực hiện. Việc này giúp tránh các đợt bí tiểu trong tương lai và tạo điều kiện theo dõi nước tiểu tồn dư sau đi tiểu (PVR). (Xem thêm mục ‘Thời điểm tập đi tiểu’ ở dưới.)
Cách thực hiện tập đi tiểu – Chúng tôi rút thông tiểu vào sáng sớm và khuyến khích bệnh nhân uống nhiều nước. Lượng PVR được đo sau đó từ bốn đến sáu giờ. (Xem thêm mục ‘Thực hiện tập đi tiểu’ ở dưới.)
- PVR <200 mL được coi là thành công và ngưng sử dụng thông tiểu.
- PVR >200 mL được coi là kết quả không rõ ràng. Đối với những bệnh nhân này, chúng tôi hướng dẫn thông tiểu ngắt quãng vô khuẩn (CIC) nếu bệnh nhân hoặc người chăm sóc có khả năng thực hiện. CIC có thể được dùng bổ trợ cho việc đi tiểu hoặc dùng khi tái phát AUR cần dẫn lưu bàng quang khẩn cấp. Nếu bệnh nhân không thể thực hiện CIC, thông tiểu lưu sẽ được thay mới.
Tập đi tiểu lần hai – Đối với những bệnh nhân tập đi tiểu lần đầu không thành công, chúng tôi khuyên nên thử lại sau hai tuần tiếp tục lưu thông tiểu. (Xem thêm mục ‘Xử trí sau lần tập đi tiểu đầu tiên’ ở dưới.)
Xử trí khi tập đi tiểu không thành công – Việc thông tiểu mạn tính thông qua CIC dài hạn, thông tiểu lưu hoặc thông tiểu trên xương mu có thể cần thiết cho những bệnh nhân tập đi tiểu không thành công. Một số bệnh nhân có thể cần can thiệp phẫu thuật để điều trị triệt để. (Xem thêm mục ‘Xử trí sau lần tập đi tiểu đầu tiên’ ở dưới và ‘Chỉ định phẫu thuật’ ở dưới.)