TÓM TẮT
Giới thiệu – Mặc dù hầu hết các trường hợp ung thư vú, buồng trứng, tuyến tiền liệt và tuyến tụy là ngẫu nhiên, một số ít là do đột biến dòng mầm trong gen nhạy cảm ung thư vú 1 hoặc 2 (BRCA1 hoặc BRCA2 [BRCA1/2]). Các biến thể gây bệnh di truyền khác cũng chiếm một tỷ lệ nhỏ trong các loại ung thư này. (Xem phần ‘Giới thiệu’ ở dưới.)
Tiêu chí đánh giá nguy cơ di truyền – Các tiêu chí chính để đánh giá nguy cơ di truyền bao gồm: tiền sử bản thân mắc ung thư vú ở nữ giới được chẩn đoán ≤ 65 tuổi, ung thư vú tam âm, hoặc tiền sử bản thân/gia đình mắc ung thư buồng trứng, ung thư vú ở nam giới, ung thư tuyến tiền liệt di căn, hoặc ung thư tụy ngoại tiết.
Ngoài ra, một số chuyên gia đề xuất xét nghiệm sàng lọc toàn diện cho tất cả bệnh nhân ung thư vú. Những bệnh nhân có chỉ định xét nghiệm di truyền nên được tư vấn bởi các chuyên gia di truyền học có chứng chỉ để được hướng dẫn trước và sau xét nghiệm. Hiện nay, các phương pháp thay thế cho tư vấn truyền thống trước xét nghiệm cũng đang dần được triển khai. (Xem phần ‘Tiêu chí đánh giá nguy cơ di truyền’ ở dưới.)
Lựa chọn phương pháp xét nghiệm di truyền ban đầu – Đối với hầu hết bệnh nhân có tiền sử phù hợp với ung thư di truyền, chúng tôi đề xuất xét nghiệm bảng đa gen (multigene panel testing) là lựa chọn hàng đầu. (Xem phần ‘Lựa chọn phương pháp xét nghiệm di truyền ban đầu’ ở dưới.)
Những bệnh nhân nguy cơ cao đã từng xét nghiệm BRCA1/2 nhưng vẫn muốn thực hiện thêm các xét nghiệm di truyền khác cần được tư vấn về khả năng hiện diện của các biến thể gây bệnh BRCA1/2 hiếm gặp chưa được phát hiện (nếu xét nghiệm trước năm 2006) hoặc biến thể gây bệnh ở một gen khác; những bệnh nhân này nên được chỉ định xét nghiệm bảng gen thế hệ mới. (Xem phần ‘Đối với những trường hợp đã xét nghiệm nhưng chưa sử dụng bảng gen thế hệ mới’ ở dưới.)
Xử trí khi kết quả dương tính – Nguy cơ ung thư và chiến lược quản lý đối với những cá nhân có kết quả xét nghiệm dương tính được thảo luận chi tiết ở các phần khác. (Xem “Tổng quan về hội chứng ung thư vú và buồng trứng di truyền” và “Nguy cơ ung thư ở người mang đột biến BRCA1/2”.)
Xử trí khi kết quả âm tính hoặc không xác định
- Đối với phụ nữ có kết quả xét nghiệm âm tính hoặc không xác định, các mô hình định lượng có thể giúp xác định những người có nguy cơ mắc ung thư vú trọn đời cao (ít nhất 20%). Những trường hợp này có chỉ định sàng lọc ung thư vú bằng cộng hưởng từ (MRI) kết hợp với chụp X-quang tuyến vú. (Xem phần ‘Các mô hình đánh giá nguy cơ’ ở dưới, ‘Không có tiền sử bản thân mắc ung thư vú’ ở dưới và “Sàng lọc ung thư vú: Chiến lược và khuyến nghị”, mục ‘Nguy cơ cao: Sàng lọc’.)
- Phụ nữ có kết quả xét nghiệm di truyền âm tính hoặc không xác định và không có tiền sử gia đình mắc ung thư buồng trứng thì không tăng nguy cơ phát triển ung thư buồng trứng. Do đó, phẫu thuật cắt bỏ hai phần phụ (vòi trứng và buồng trứng) không được chỉ định để giảm nguy cơ ung thư buồng trứng. (Xem phần ‘Không có tiền sử gia đình mắc ung thư buồng trứng’ ở dưới.)
- Những cá nhân có tiền sử gia đình mắc ung thư tuyến tiền liệt hoặc ung thư tụy, dù kết quả xét nghiệm di truyền là âm tính thật sự hoặc không xác định, vẫn có thể có nguy cơ tăng cao đối với các loại ung thư này. Vì vậy, cần thực hiện đánh giá nguy cơ cá thể hóa và thảo luận về lợi ích, hạn chế cũng như rủi ro tiềm tàng của việc sàng lọc các loại ung thư này. (Xem “Sàng lọc ung thư tuyến tiền liệt” và “Yếu tố nguy cơ gia đình đối với ung thư tụy và sàng lọc bệnh nhân nguy cơ cao”.)