Ung thư vú ở nam giới

TÓM TẮT

Ung thư vú ở nam giới ít gặp hơn nhiều so với nữ giới và thường khởi phát ở độ tuổi cao hơn. Nam giới mắc ung thư vú nên được chuyển đến tư vấn và xét nghiệm di truyền. (Xem thêm phần ‘Dịch tễ học và các yếu tố nguy cơ’ ở dưới và “Xét nghiệm di truyền và quản lý các cá nhân có nguy cơ mắc hội chứng ung thư vú và buồng trứng di truyền”, phần ‘Tiền sử cá nhân hoặc gia đình’).

Sinh thiết là bắt buộc để xác nhận chẩn đoán, đồng thời đánh giá tình trạng thụ thể nội tiết và biểu hiện thụ thể yếu tố tăng trưởng biểu bì người 2 (HER2), vì cả hai yếu tố này đều ảnh hưởng đến việc lựa chọn phương pháp điều trị. (Xem thêm phần ‘Đánh giá chẩn đoán và phân giai đoạn’ ở dưới).

Hầu hết nam giới mắc ung thư vú giai đoạn sớm được điều trị bằng phẫu thuật đoạn nhũ thay vì phẫu thuật bảo tồn vú do lượng mô vú hạn chế. Tuy nhiên, đối với những bệnh nhân có đủ mô vú để có thể phẫu thuật bảo tồn, cả đoạn nhũ và liệu pháp bảo tồn vú đều là những lựa chọn phù hợp. Đối với những nam giới chọn phẫu thuật bảo tồn, chúng tôi khuyến cáo điều trị xạ trị bổ trợ (RT) (Khuyến cáo 1B). (Xem thêm phần ‘Bệnh giai đoạn sớm’‘Xạ trị’ ở dưới).

Tương tự như ở nữ giới, cần đánh giá hạch nách bằng phẫu thuật. (Xem thêm phần ‘Quản lý hạch vùng’ ở dưới).

Đối với nam giới có hạch nách dương tính trên lâm sàng, tương tự như nữ giới, chúng tôi khuyến cáo nạo vét hạch nách (Khuyến cáo 1B). (Xem “Tổng quan về quản lý hạch vùng trong ung thư vú”“Tổng quan về quản lý hạch vùng trong ung thư vú”, phần ‘Đánh giá hạch nách’).

Đối với bệnh nhân có hạch nách không tổn thương trên lâm sàng, chúng tôi đề xuất sinh thiết hạch gác (SLNB) thay vì nạo vét hạch nách toàn bộ (Khuyến cáo 2B).

Nam giới có kết quả SLNB âm tính không cần phẫu thuật thêm. Tuy nhiên, vai trò của nạo vét hạch nách toàn bộ đối với nam giới có SLNB dương tính vẫn còn gây tranh cãi. Do thiếu dữ liệu để định hướng vấn đề này, hướng tiếp cận đối với bệnh nhân SLNB dương tính sẽ tương tự như ở nữ giới. (Xem “Tổng quan về sinh thiết hạch gác trong ung thư vú”).

Tương tự như nữ giới, đối với nam giới mắc ung thư vú tiến triển tại chỗ (ví dụ: giai đoạn T3 hoặc T4) và/hoặc có từ 4 hạch nách tổn thương trở lên, chúng tôi khuyến cáo xạ trị thành ngực và hạch vùng sau phẫu thuật (Khuyến cáo 1B). Đối với những bệnh nhân có từ 1 đến 3 hạch tổn thương hoặc khối u nguyên phát có nguy cơ cao, chúng tôi cũng đề xuất xạ trị hạch vùng (Khuyến cáo 2B), tương tự như ở nữ giới. (Xem thêm phần ‘Xạ trị’ ở dưới và “Xạ trị bổ trợ cho phụ nữ mới chẩn đoán ung thư vú không di căn”).

Phương pháp điều trị hệ thống bổ trợ (ví dụ: hóa trị và/hoặc liệu pháp nhắm mục tiêu HER2) cho nam giới mới chẩn đoán ung thư vú tương tự như ở nữ giới. (Xem “Lựa chọn và thực hiện hóa trị bổ trợ cho ung thư vú HER2 âm tính”“Liệu pháp hệ thống bổ trợ cho ung thư vú HER2 dương tính”).

Đối với những bệnh nhân có thụ thể nội tiết dương tính:

  • Nếu ở giai đoạn sớm, chúng tôi đề xuất tamoxifen bổ trợ thay vì thuốc ức chế aromatase (AI) (Khuyến cáo 2C), do không đủ bằng chứng để hỗ trợ đơn trị liệu bằng AI ở nam giới. Chúng tôi cũng đề xuất tamoxifen bổ trợ hơn là dùng AI kết hợp với thuốc đồng vận hormone giải phóng gonadotropin (GnRHa) (Khuyến cáo 2C) vì khả năng dung nạp tốt hơn. Tuy nhiên, đối với những bệnh nhân có chống chỉ định với tamoxifen (ví dụ: tình trạng tăng đông), AI kết hợp với GnRHa là một lựa chọn thay thế chấp nhận được. (Xem thêm phần ‘Liệu pháp nội tiết’ ở dưới).
  • Nếu ở giai đoạn di căn, chúng tôi đề xuất phối hợp thuốc ức chế kinase phụ thuộc cyclin (CDK) 4/6 với tamoxifen hoặc AI/GnRHa, thay vì sử dụng các liệu pháp này đơn độc (Khuyến cáo 2B). Tuy nhiên, dữ liệu trong lĩnh vực này cực kỳ hạn chế; việc bỏ qua thuốc ức chế CDK 4/6 và chỉ sử dụng liệu pháp nội tiết đơn thuần là một lựa chọn thay thế chấp nhận được, đặc biệt đối với những bệnh nhân có gánh nặng bệnh thấp, có bệnh đồng mắc hoặc tùy theo nguyện vọng của bệnh nhân. Khi sử dụng AI, chúng tôi đề xuất phối hợp thêm GnRHa, do tinh hoàn vẫn có thể tiếp tục sản xuất estrogen khi AI được dùng đơn trị liệu ở nam giới.

Mặc dù bằng chứng về các thuốc ức chế CDK 4/6, fulvestrant, alpelisib và everolimus ở nam giới còn hạn chế, chúng tôi áp dụng các tác nhân này trong điều trị bệnh di căn theo hướng tiếp cận tương tự như ở nữ giới. Khi sử dụng AI (có hoặc không kèm liệu pháp nhắm mục tiêu), chúng tôi dùng GnRHa để ức chế sự sản xuất estrogen tại tinh hoàn. (Xem thêm phần ‘Bệnh di căn’ ở dưới).

Gói truy cập

Dùng thử

0 VND

  • Trải nghiệm một số nội dung trong thư viện.
  • Khôn cần đăng ký tài khoản.
  • Mua gói truy cập khi bạn sẵn sàng.

Gói truy cập một năm

389.000 VND

  • Truy cập toàn bộ thư viện mọi lúc, mọi nơi, và trên mọi thiết bị.
  • Nội dung cập nhật mỗi ngày.
  • Thanh toán bằng quét VietQR, nhanh chóng và an toàn.
  • Hỗ trợ trực tuyến.
Already a member? Log in here