Tác dụng toàn thân
Glucocorticoid tiêm nội khớp có mức độ hấp thu toàn thân nhất định, do đó có thể gây ra các tác dụng phụ toàn thân. Tác dụng thường gặp nhất là tăng đường huyết thoáng qua, điều này có thể gây khó khăn cho bệnh nhân đái tháo đường (DM). Tuy nhiên, nồng độ glucose máu thường chỉ tăng cao trong vòng một đến hai ngày và hiếm khi gây ra rủi ro lâm sàng đáng kể nếu bệnh đái tháo đường được kiểm soát tốt. (Xem “Các bệnh đồng mắc ảnh hưởng đến quản lý thoái hóa khớp”, phần ‘Đái tháo đường’.)
Một tác dụng phụ hiếm gặp liên quan đến hấp thu toàn thân của glucocorticoid nội khớp là ức chế trục hạ đồi – tuyến yên 22. Các biến chứng toàn thân hiếm gặp khác bao gồm xuất huyết dưới da, rối loạn kinh nguyệt, đẩy nhanh quá trình hình thành đục thủy tinh thể và loãng xương. Các dấu ấn chuyển hóa xương cho thấy quá trình chuyển hóa xương hồi phục hoàn toàn trong vòng một đến hai tuần sau khi tiêm 18,23. Loãng xương do glucocorticoid thường không phải là mối lo ngại chính đối với đa số bệnh nhân nếu khoảng cách giữa các lần tiêm đủ dài. (Xem “Đặc điểm lâm sàng và đánh giá loãng xương do glucocorticoid” và “Các tác dụng phụ chính của glucocorticoid toàn thân”.)
Phản ứng dị ứng
Tỷ lệ xảy ra phản ứng dị ứng hiện chưa được xác định. Hiện tượng đỏ bừng mặt thường bị một số bệnh nhân nhầm lẫn với phản ứng dị ứng. (Xem ‘Đỏ bừng mặt’ ở dưới.)
Các biến chứng khác
Các biến chứng hiếm gặp khác đã được mô tả bao gồm vôi hóa loạn dưỡng, bệnh khớp kiểu Charcot, hoặc viêm mạch máu da do thuốc (còn gọi là viêm da dạng lưới và hội chứng Nicolau).
TÓM TẮT
- Biến chứng nhiễm trùng – Vi khuẩn có thể xâm nhập vào khoang khớp hoặc các túi hoạt dịch lân cận trong quá trình chọc hút hoặc tiêm khớp. Viêm khớp nhiễm khuẩn do can thiệp y tế là một biến chứng hiếm gặp nhưng nghiêm trọng, xảy ra với tỷ lệ khoảng 1 trên 1000 đến 3000 thủ thuật. Cần nghi ngờ nhiễm trùng thay vì phản ứng viêm sau tiêm thông thường nếu tình trạng viêm kéo dài quá 48 giờ hoặc khởi phát muộn hơn 48 giờ sau khi tiêm. Viêm túi hoạt dịch nhiễm khuẩn có thể xảy ra do vi khuẩn xâm nhập trực tiếp thông qua vết kim đâm trên da trong khi tiêm. (Xem ‘Viêm khớp nhiễm khuẩn’ ở dưới, “Viêm khớp nhiễm khuẩn ở người trưởng thành” và “Viêm túi hoạt dịch nhiễm khuẩn”.)
- Biến chứng liên quan đến kỹ thuật – Các biến chứng không do nhiễm trùng liên quan trực tiếp đến kỹ thuật bao gồm chảy máu, đứt gân và tổn thương thần kinh mạch máu. Đứt gân thường liên quan đến việc tiêm trực tiếp vào trong gân và có thể trầm trọng hơn nếu gân đã có bệnh lý từ trước. Teo hoặc hoại tử dây thần kinh xảy ra khi glucocorticoid xâm nhập trực tiếp vào bao dây thần kinh, điển hình như trong tiêm ống cổ tay. (Xem ‘Đứt gân’ và ‘Tổn thương thần kinh mạch máu’ ở dưới.)
- Tác dụng phụ liên quan đến glucocorticoid – Các biến chứng của tiêm glucocorticoid nội khớp liên quan đến thuốc bao gồm phản ứng viêm sau tiêm, đỏ bừng mặt, thay đổi da hoặc mô mỡ tại chỗ, hoại tử xương, tổn thương sụn, tác dụng toàn thân (ví dụ: tăng đường huyết), phản ứng dị ứng và các biến chứng hiếm gặp khác (ví dụ: vôi hóa loạn dưỡng, bệnh khớp kiểu Charcot, hoặc viêm mạch máu da do thuốc [còn gọi là viêm da dạng lưới và hội chứng Nicolau]). (Xem ‘Độc tính liên quan đến glucocorticoid’ ở dưới.)