TÓM TẮT
Định nghĩa – Nhiễm khuẩn niệu không triệu chứng được định nghĩa là sự hiện diện của vi khuẩn với mật độ định lượng xác định trong mẫu nước tiểu được lấy đúng cách ở đối tượng không có triệu chứng hoặc dấu hiệu của nhiễm khuẩn đường tiết niệu (UTI). (Xem mục ‘Định nghĩa’ ở dưới.)
Thiếu vắng triệu chứng – “Không triệu chứng” có nghĩa là không có các biểu hiện lâm sàng đặc hiệu của UTI (ví dụ: tiểu buốt, tiểu nhiều lần hoặc tiểu gấp, đau vùng hạ vị, đau hông lưng hoặc rung thận dương tính). Khi bệnh nhân không sốt hoặc không có các dấu hiệu nhiễm trùng hệ thống, bác sĩ lâm sàng cần rất thận trọng trước khi sử dụng các triệu chứng không đặc hiệu (như mê sảng, thay đổi hành vi, sụt cân/suy kiệt) để chẩn đoán UTI. Chẩn đoán nhầm UTI trong những tình huống này có thể dẫn đến việc lạm dụng kháng sinh và bỏ sót chẩn đoán cũng như điều trị nguyên nhân thực sự gây ra triệu chứng cho bệnh nhân. (Xem mục ‘Định nghĩa nhiễm khuẩn niệu không triệu chứng’ ở dưới.)
Ngưỡng vi khuẩn niệu – Ngưỡng phân biệt giữa nhiễm khuẩn niệu không triệu chứng với tình trạng tạp nhiễm trong mẫu nước tiểu lấy giữa dòng hoặc qua thông tiểu là khi phân lập được một chủng vi khuẩn duy nhất với mật độ định lượng $\ge 100.000$ ($10^{5}$) đơn vị hình thành khuẩn lạc (CFU)/mL. (Xem mục ‘Ngưỡng phân biệt vi khuẩn niệu và tạp nhiễm’ ở dưới.)
Sự không liên quan của tiểu mủ – Tiểu mủ không phải là dấu hiệu thay thế cho tình trạng nhiễm khuẩn niệu. Trong bối cảnh nhiễm khuẩn niệu không triệu chứng, sự hiện diện của tiểu mủ không phải là chỉ định của UTI cần phải điều trị. (Xem mục ‘Sự không liên quan của tiểu mủ’ ở dưới.)
Không cần tầm soát/điều trị ở quần thể chung – Không có vai trò của việc tầm soát thường quy nhiễm khuẩn niệu không triệu chứng ở quần thể chung, không mang thai. Đối với hầu hết bệnh nhân không mang thai có nhiễm khuẩn niệu không triệu chứng, chúng tôi khuyến cáo không điều trị bằng kháng sinh (Khuyến cáo 1B). Khuyến cáo này cũng áp dụng cho bệnh nhân cao tuổi, bệnh nhân đái tháo đường, bệnh nhân đặt ống thông tiểu lưu và bệnh nhân trải qua phẫu thuật không thuộc hệ tiết niệu. (Xem mục ‘Thiếu lợi ích điều trị’ ở dưới.)
Diễn tiến tự nhiên lành tính – Nhiễm khuẩn niệu không triệu chứng khá phổ biến, đặc biệt ở phụ nữ, và không liên quan đến các tác hại lâu dài. Ở hầu hết bệnh nhân, không có bằng chứng cho thấy việc điều trị kháng sinh đối với nhiễm khuẩn niệu không triệu chứng giúp giảm tần suất nhiễm trùng có triệu chứng hoặc các biến chứng liên quan đến nhiễm trùng. (Xem mục ‘Diễn tiến tự nhiên lành tính’ ở dưới.)
Tác dụng phụ của việc điều trị – Ngoài các tác dụng phụ trực tiếp của kháng sinh, việc điều trị nhiễm khuẩn niệu không triệu chứng còn liên quan đến sự gia tăng đề kháng kháng sinh ở các vi khuẩn gây bệnh tiết niệu, gây khó khăn cho việc điều trị các đợt UTI có triệu chứng về sau. Một số bằng chứng cũng cho thấy việc điều trị nhiễm khuẩn niệu không triệu chứng có thể làm tăng nguy cơ mắc UTI sau đó. (Xem mục ‘Tác dụng phụ của kháng sinh’ ở dưới.)
Các chỉ định tiềm năng cho tầm soát – Thai kỳ, các thủ thuật tiết niệu dự kiến gây chảy máu niêm mạc, và ghép thận gần đây là những tình huống có thể cân nhắc tầm soát và điều trị nhiễm khuẩn niệu không triệu chứng. Các chỉ định tiềm năng này được thảo luận chi tiết ở các phần khác: (Xem “Nhiễm khuẩn đường tiết niệu và nhiễm khuẩn niệu không triệu chứng ở phụ nữ mang thai”, phần ‘Nhiễm khuẩn niệu không triệu chứng’; “Điều trị ngoại khoa tăng sản lành tính tuyến tiền liệt (BPH)”, phần ‘Dự phòng kháng sinh’; và “Nhiễm khuẩn đường tiết niệu ở người ghép thận”, phần ‘Theo dõi nhiễm khuẩn niệu không triệu chứng’.)