Di truyền, đặc điểm lâm sàng và chẩn đoán hội chứng Marfan và các rối loạn liên quan

TÓM TẮT

Di truyền học – Hội chứng Marfan (MFS) gây ra bởi nhiều biến thể khác nhau trong gen FBN1.

Các biến thể FBN1 – Những biến thể này được tìm thấy ở hơn 90% bệnh nhân MFS (Xem ‘Các biến thể FBN1’ ở dưới). Tuy nhiên, một số bệnh nhân mang biến thể gen FBN1 không mắc MFS mà mắc các rối loạn liên quan như hội chứng lệch thủy tinh thể hoặc các bệnh lý khác như hội chứng Shprintzen-Goldberg, hội chứng Weill-Marchesani hoặc hội chứng da cứng (bảng 1). (Xem ‘Kiểu hình FBN1’ ở dưới).

Không xác định được biến thể FBN1 – Khoảng 10% cá thể nghi ngờ mắc MFS không tìm thấy biến thể FBN1 xác định. Một số trường hợp có thể mang biến thể TGFBR1 hoặc TGFBR2. Các biến thể TGFBR1/TGFBR2 thường gây ra hội chứng Loeys-Dietz (LDS), và hiếm khi liên quan đến hội chứng phình động mạch chủ ngực gia đình (FTAA). Chúng tôi đề xuất phân loại những cá thể có kiểu hình Marfan nhưng mang biến thể TGFBR1 hoặc TGFBR2 vào nhóm LDS, vì họ có nguy cơ mắc bệnh lý mạch máu tiến triển nặng hơn so với MFS. (Xem ‘Các biến thể TGFBR’‘Chẩn đoán phân biệt’ ở dưới).

Chẩn đoán

  • Tiếp cận chẩn đoán – Sự hiện diện của một biến thể FBN1 có khả năng gây bệnh kết hợp với một số đặc điểm lâm sàng là cơ sở vững chắc để chẩn đoán MFS. Việc chẩn đoán MFS trong cả trường hợp gia đình và trường hợp đơn độc (sporadic) dựa trên các biểu hiện đặc trưng, đặc biệt là giãn/bóc tách gốc động mạch chủ và lệch thủy tinh thể, cùng các đặc điểm hệ thống khác bao gồm các dấu hiệu về khung xương, sa van hai lá, giãn bao màng cứng, tràn khí màng phổi và rạn da. (Xem ‘Tiếp cận chẩn đoán MFS’ ở dưới).
  • Nhận diện giãn động mạch chủ – Chỉ số Z-score gốc động mạch chủ được sử dụng để xác định tình trạng giãn động mạch chủ vì kích thước động mạch chủ thay đổi theo kích thước cơ thể. Tuy nhiên, việc sử dụng Z-score có thể đánh giá thấp kích thước động mạch chủ, đặc biệt ở những người có diện tích bề mặt cơ thể lớn. (Xem ‘Bệnh lý động mạch chủ’‘Phê bình phân loại Ghent sửa đổi’ ở dưới).
  • Người trẻ tuổi – Khi áp dụng các tiêu chuẩn chẩn đoán cho đối tượng dưới 20 tuổi cần đặc biệt thận trọng vì một số đặc điểm lâm sàng có thể chưa xuất hiện. (Xem ‘Các xét nghiệm bổ sung cần thiết ở trẻ em và người trẻ tuổi’ ở dưới).
  • Chẩn đoán phân biệt – Chẩn đoán phân biệt với MFS bao gồm nhiều tình trạng có đặc điểm kiểu hình chồng lấp một phần với MFS, bao gồm các rối loạn liên quan đến biến thể FBN1/2 hoặc TGFBR1/2, cũng như nhiều rối loạn di truyền khác (bảng 1). (Xem ‘Chẩn đoán phân biệt’ ở dưới).

Tầm soát cho người thân

(Xem ‘Tầm soát cho người thân’ ở dưới).

  • Đối với những người đã biết có biến thể gen – Thân nhân trực hệ của bệnh nhân có biến thể gen liên quan đến phình và/hoặc bóc tách động mạch chủ (ví dụ: FBN1, TGFBR1, TGFBR2, COL3A1, ACTA2, MYH11) cần được tư vấn và làm xét nghiệm di truyền. Những người được xác định mang biến thể di truyền sau đó cần được chụp hình ảnh động mạch chủ.
  • Đối với những người có bệnh lý động mạch chủ – Đối với bệnh nhân phình và/hoặc bóc tách động mạch chủ mà không xác định được biến thể gen, khuyến cáo chụp hình ảnh động mạch chủ cho thân nhân trực hệ để phát hiện những trường hợp mắc bệnh không triệu chứng. Nếu một hoặc nhiều thân nhân trực hệ được phát hiện giãn, phình hoặc bóc tách động mạch chủ ngực, việc chụp hình ảnh cho thân nhân bậc hai là hợp lý.

Gói truy cập

Dùng thử

0 VND

  • Trải nghiệm một số nội dung trong thư viện.
  • Khôn cần đăng ký tài khoản.
  • Mua gói truy cập khi bạn sẵn sàng.

Gói truy cập một năm

189.000 VND

  • Truy cập toàn bộ thư viện mọi lúc, mọi nơi, và trên mọi thiết bị.
  • Nội dung cập nhật mỗi ngày.
  • Thanh toán bằng quét VietQR, nhanh chóng và an toàn.
  • Hỗ trợ trực tuyến.
Already a member? Log in here