TÓM TẮT
Biểu hiện lâm sàng – Thời gian của giai đoạn không triệu chứng trong hẹp van hai lá (MS) do thấp rất khác nhau; thông thường, bệnh tiến triển thành có triệu chứng nhanh hơn ở trẻ em và người trẻ tuổi tại các quốc gia nghèo, trong khi ở người lớn tuổi tại các quốc gia phát triển, quá trình này diễn ra chậm hơn. Hẹp van hai lá do thấp thường biểu hiện bằng khó thở khi gắng sức, giảm khả năng gắng sức hoặc rung nhĩ (AF). Các biểu hiện lâm sàng ít gặp hơn bao gồm ho ra máu, đau ngực, mệt mỏi, cổ trướng, phù chi dưới, đột quỵ hoặc các biến cố thuyên tắc huyết khối khác. (Xem “Sinh lý bệnh và diễn tiến tự nhiên của hẹp van hai lá”, phần ‘Diễn tiến tự nhiên’ và ‘Triệu chứng’ ở dưới.)
Yếu tố khởi phát triệu chứng – Ở bệnh nhân hẹp van hai lá, bất kỳ tình trạng nào làm tăng cung lượng tim hoặc gây nhịp tim nhanh đều có thể làm tăng đáng kể chênh áp qua van hai lá và khởi phát các triệu chứng như khó thở hoặc ho ra máu. Các hoạt động hoặc tình trạng có thể gây khởi phát triệu chứng bao gồm gắng sức, căng thẳng tâm lý, sốt, nhiễm trùng, rung nhĩ và thai kỳ. (Xem ‘Yếu tố khởi phát triệu chứng’ ở dưới.)
Nghe tim – Việc xác định các tiếng tim đặc trưng, tiếng bật mở và tiếng thổi tâm trương có thể giúp chẩn đoán hẹp van hai lá khi bệnh nhân được đặt ở tư thế phù hợp trong phòng yên tĩnh (video 1A-B). Tuy nhiên, tiếng bật mở và tiếng thổi có thể khó nhận diện, đặc biệt khi nhịp tim tăng cao. (Xem ‘Khám tim’ ở dưới.)
Biến chứng – Các biến chứng của hẹp van hai lá bao gồm rung nhĩ, thuyên tắc huyết khối, tăng áp lực động mạch phổi (PH), suy tim phải, viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn và khàn tiếng. (Xem ‘Biến chứng’ ở dưới.)
Chẩn đoán và đánh giá – Chẩn đoán hẹp van hai lá do thấp được nghi ngờ ở bệnh nhân có đặc điểm nhân khẩu học phù hợp với nguy cơ mắc bệnh tim do thấp, kèm theo các triệu chứng và dấu hiệu gợi ý hẹp van hai lá. Siêu âm tim qua thành ngực được sử dụng để xác định chẩn đoán và kết hợp với các triệu chứng để xác định giai đoạn bệnh (bảng 1). (Xem ‘Chẩn đoán và đánh giá’ ở dưới.)
Vai trò của các xét nghiệm bổ sung – Nếu có sự không thống nhất giữa kết quả siêu âm tim lúc nghỉ với các triệu chứng hoặc dấu hiệu lâm sàng, nên thực hiện test gắng sức huyết động để đánh giá thay đổi về chênh áp trung bình qua van hai lá (thường bằng siêu âm tim gắng sức) hoặc áp lực mao mạch phổi bít (bằng thông tim gắng sức). Thông tim hiếm khi cần thiết để chẩn đoán hẹp van hai lá và thường được thực hiện như một phần của thủ thuật can thiệp điều trị. (Xem ‘Tiếp cận chẩn đoán’ ở dưới và “Nong van hai lá bằng bóng qua da ở người lớn”.)
Chẩn đoán phân biệt – Chẩn đoán phân biệt của hẹp van hai lá do thấp bao gồm các bệnh lý có triệu chứng và dấu hiệu tương tự, bao gồm các tổn thương gây tắc nghẽn tim như hẹp van hai lá cơ năng sau sửa van hai lá qua da, hẹp van hai lá do vôi hóa, u nhầy tâm nhĩ trái và tim ba tâm nhĩ. (Xem ‘Chẩn đoán phân biệt’ ở dưới.)