TÓM TẮT
-
Thuật ngữ – Thuật ngữ “trầm cảm” dùng để chỉ các loại trạng thái lâm sàng theo giai đoạn khác nhau, tồn tại trên một phổ mức độ nghiêm trọng từ dưới ngưỡng hội chứng (subsyndromal) đến trầm cảm nhẹ và trầm cảm chủ yếu. Các hội chứng trầm cảm có ý nghĩa lâm sàng nhưng chưa đủ tiêu chuẩn chẩn đoán trầm cảm chủ yếu thường được phân loại là trầm cảm nhẹ. (Xem thêm phần ‘Thuật ngữ’ ở dưới và “Trầm cảm ở người trưởng thành: Đặc điểm lâm sàng và chẩn đoán”, mục ‘Định nghĩa về trầm cảm’.)
-
Dịch tễ học – Các nghiên cứu dịch tễ học đại diện quốc gia tại Hoa Kỳ ước tính tỷ lệ hiện mắc suốt đời của trầm cảm nhẹ trong quần thể chung là 9% đến 10%. Các khảo sát tương tự tại 68 quốc gia khác ước tính tỷ lệ hiện mắc trong một năm của trầm cảm nhẹ là 2,8%. Ở những bệnh nhân tại các cơ sở chăm sóc sức khỏe ban đầu, tỷ lệ hiện mắc điểm quan sát được dao động từ 6% đến 16%. Trầm cảm nhẹ phổ biến hơn ở nữ giới và những người từng kết hôn, đồng thời luôn đi kèm với sự suy giảm chức năng tâm lý xã hội. (Xem thêm phần ‘Dịch tễ học’ ở dưới.)
-
Cơ chế bệnh sinh – Nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh của trầm cảm nhẹ hiện chưa được làm rõ. Các nghiên cứu gia đình cho thấy rối loạn này không có xu hướng tập trung theo dòng họ. Một số loại thuốc được ghi nhận là có liên quan đến các triệu chứng trầm cảm (bảng 8). (Xem thêm phần ‘Cơ chế bệnh sinh’ ở dưới.)
-
Biểu hiện lâm sàng – Biểu hiện lâm sàng của trầm cảm nhẹ có thể bao gồm các triệu chứng về cảm xúc, nhận thức, triệu chứng thần kinh thực vật cũng như ý tưởng tự sát. Trầm cảm nhẹ gây ra sự đau khổ đáng kể và/hoặc suy giảm chức năng. Tình trạng này thường xảy ra ở những bệnh nhân có bệnh lý đồng mắc như lo âu, lạm dụng chất, rối loạn nhân cách và các bệnh lý nội khoa tổng quát. (Xem thêm phần ‘Biểu hiện lâm sàng’ ở dưới.)
-
Diễn tiến bệnh – Mặc dù nhiều đợt trầm cảm nhẹ cuối cùng sẽ tự hồi phục, nhưng rối loạn này có thể kéo dài, tái phát hoặc tiến triển thành trầm cảm chủ yếu. Ngoài ra, trầm cảm nhẹ làm tăng nguy cơ phát triển các rối loạn tâm thần khác (ví dụ: rối loạn lo âu) và tăng tỷ lệ tử vong do mọi nguyên nhân. (Xem thêm phần ‘Diễn tiến bệnh’ ở dưới.)
-
Đánh giá – Quá trình đánh giá ban đầu đối với trầm cảm nhẹ bao gồm khai thác tiền sử tâm thần và khám trạng thái tâm thần, cùng với tiền sử nội khoa tổng quát, khám thể chất và các xét nghiệm cận lâm sàng chọn lọc. Tiền sử tâm thần cần nhấn mạnh vào các triệu chứng trầm cảm, ý tưởng và hành vi tự sát, trình tự thời gian của các triệu chứng và rối loạn trầm cảm, các rối loạn tâm thần khác, thuốc đang sử dụng, tiền sử rối loạn khí sắc và lo âu, các yếu tố gây stress tâm lý xã hội, mức độ hỗ trợ xã hội và tiền sử gia đình về rối loạn khí sắc và lo âu. Bộ câu hỏi Sức khỏe Bệnh nhân – 9 mục (PHQ-9) (bảng 1) có thể được sử dụng để sàng lọc trầm cảm nhẹ. (Xem thêm phần ‘Đánh giá’ ở dưới.)
-
Chẩn đoán – Tiêu chuẩn chẩn đoán trầm cảm nhẹ bao gồm từ hai đến bốn triệu chứng trầm cảm (khí sắc trầm, mất hứng thú, thay đổi cảm giác ngon miệng hoặc cân nặng, rối loạn giấc ngủ, kích động hoặc chậm chạp tâm thần vận động, mệt mỏi, cảm giác vô giá trị hoặc tội lỗi không phù hợp, suy giảm nhận thức, và ý nghĩ tái diễn về cái chết, tự sát hoặc nỗ lực tự sát), trong đó bắt buộc phải có ít nhất một trong hai triệu chứng là khí sắc trầm hoặc mất hứng thú. Ngoài ra, các triệu chứng phải gây ra sự đau khổ đáng kể hoặc suy giảm chức năng tâm lý xã hội. (Xem thêm phần ‘Chẩn đoán’ ở dưới.)
-
Chẩn đoán phân biệt – Triệu chứng của trầm cảm nhẹ chồng lấp với các rối loạn trầm cảm khác, bao gồm: trầm cảm chủ yếu; rối loạn trầm cảm dai dẳng (dysthymia); rối loạn thích ứng kèm khí sắc trầm; rối loạn trầm cảm do chất/thuốc; và rối loạn trầm cảm do một bệnh lý nội khoa khác, bao gồm các bệnh lý thần kinh (ví dụ: bệnh Parkinson hoặc đột quỵ), rối loạn nội tiết (ví dụ: suy giáp), nhiễm trùng (ví dụ: HIV) và các bệnh tự miễn (ví dụ: lupus ban đỏ hệ thống). (Xem thêm phần ‘Chẩn đoán phân biệt’ ở dưới.)