TÓM TẮT
-
Các biện pháp xử trí ban đầu cho mọi bệnh nhân – Quản lý chung viêm kết mạc dị ứng bao gồm hướng dẫn bệnh nhân không dụi mắt, ngưng sử dụng kính áp tròng trong giai đoạn có triệu chứng, chườm lạnh và sử dụng thường xuyên nước mắt nhân tạo bảo quản lạnh trong ngày. (Xem thêm mục ‘Các biện pháp ban đầu’ ở dưới.)
-
Tránh tác nhân gây dị ứng – Việc thực hiện các biện pháp tránh tác nhân gây dị ứng là rất quan trọng đối với mọi thể viêm kết mạc dị ứng. Nội dung này được xem xét chi tiết trong một phần riêng. (Xem “Tránh tiếp xúc với dị nguyên trong điều trị hen suyễn và viêm mũi dị ứng”.)
-
Các đợt triệu chứng ngắn – Đối với những bệnh nhân cần điều trị ngắn hạn (từ hai tuần trở xuống) để giảm triệu chứng, các chế phẩm thuốc kháng histamin/co mạch tại chỗ không kê đơn có thể mang lại hiệu quả. Thành phần co mạch giúp giảm đỏ và phù kết mạc, nhưng có thể gây sung huyết dội ngược nếu sử dụng quá hai tuần. Các ví dụ điển hình bao gồm naphazoline hydrochloride/pheniramine maleate (các biệt dược như Naphcon-A, Opcon-A, Visine-A và một số loại khác). Liều dùng tối đa bốn lần mỗi ngày. (Xem thêm mục ‘Viêm kết mạc dị ứng cấp tính’ ở dưới.)
-
Triệu chứng thường xuyên hoặc kéo dài – Đối với bệnh nhân có các đợt triệu chứng thường xuyên (xảy ra hơn hai ngày mỗi tháng) hoặc bệnh nhân viêm kết mạc dị ứng theo mùa hoặc quanh năm, chúng tôi khuyến cáo ưu tiên sử dụng thuốc kháng histamin tại chỗ có đặc tính ổn định tế bào mast hơn là các liệu pháp khác (Khuyến cáo 1A). Các ví dụ bao gồm olopatadine (biệt dược Pataday), alcaftadine (biệt dược Lastacaft), bepotastine (biệt dược Bepreve), azelastine (generic), cetirizine (biệt dược Zerviate), epinastine (generic), và ketotifen (biệt dược Alaway, Zaditor) (bảng 1). Hầu hết các thuốc này có tác dụng khởi phát trong vòng vài phút. Cần điều trị ít nhất hai tuần để đánh giá đầy đủ hiệu quả của thuốc. Sơ đồ tiếp cận điều trị được cung cấp tại (sơ đồ 1). (Xem thêm mục ‘Các đợt thường xuyên’ và ‘Viêm kết mạc dị ứng theo mùa và quanh năm’ ở dưới.)
Với bệnh nhân viêm kết mạc dị ứng theo mùa (SAC), nên bắt đầu điều trị ít nhất từ hai đến bốn tuần trước mùa phấn hoa để tối ưu hóa hiệu quả. (Xem thêm mục ‘Viêm kết mạc dị ứng theo mùa và quanh năm’ ở dưới.)
Ở bệnh nhân có viêm mũi dị ứng đi kèm, việc phối hợp thêm thuốc xịt glucocorticoid trong mũi mang lại hiệu quả cao hơn so với thuốc kháng histamin đường uống không gây buồn ngủ. (Xem thêm mục ‘Bệnh nhân kèm theo viêm mũi’ ở dưới.)
Với bệnh nhân kèm theo khô mắt, thuốc kháng histamin đường uống có thể làm trầm trọng thêm các triệu chứng khô mắt nên cần tránh sử dụng. (Xem thêm mục ‘Thuốc kháng histamin đường uống’ ở dưới.)
-
Triệu chứng kháng trị – Những bệnh nhân có triệu chứng nhãn khoa nặng, kéo dài dù đã điều trị bằng thuốc kháng histamin/ổn định tế bào mast trong ít nhất ba tuần, cần được chuyển đến bác sĩ nhãn khoa để xác chẩn, đánh giá tình trạng khô mắt đi kèm và có hướng xử trí tiếp theo. Có thể cần sử dụng một đợt ngắn thuốc steroid tại chỗ “loại nhẹ” (soft steroid) để kiểm soát triệu chứng. (Xem thêm mục ‘Các triệu chứng kháng trị’ và ‘Corticosteroid’ ở dưới.)
-
Liệu pháp miễn dịch đặc hiệu – Những bệnh nhân muốn hạn chế sử dụng thuốc, không thể tránh được các tác nhân gây dị ứng hoặc có triệu chứng nặng, tái phát dù đã điều trị đúng phác đồ nên được chuyển đến chuyên khoa dị ứng. Liệu pháp miễn dịch đặc hiệu có thể là lựa chọn phù hợp cho những bệnh nhân này. (Xem thêm mục ‘Chuyển tuyến’ ở dưới.)