Tình huống
Một bệnh nhân nữ 86 tuổi đến khám vì khó thở khi gắng sức và tiểu đêm. Các triệu chứng này xuất hiện trong 6 tháng qua và tiến triển nặng dần. Bệnh nhân không đau ngực, không hồi hộp, không ngất. Tiền sử tăng huyết áp mạn tính, hiện đang điều trị bằng lisinopril. Ghi nhận: huyết áp 152/78 mmHg, mạch 82 lần/phút đều, nhịp thở 18 lần/phút. Áp lực tĩnh mạch cảnh 10 cm H2O. Phổi trong, không rale. Tim không tiếng thổi. Bụng chướng nhẹ, không đau. Phù mềm ấn lõm 2+ ở hai chi dưới. Nồng độ Brain natriuretic peptide (BNP) là 776 pg/mL (bình thường <100 pg/mL). D-dimer trong giới hạn bình thường. X-quang ngực: bóng tim không to, không tăng đậm vân phổi và không có phù phổi. Tổng phân tích nước tiểu: protein (1+), các chỉ số khác bình thường. Chẩn đoán nào sau đây là phù hợp nhất?