Tình huống
Một phụ nữ 35 tuổi đến khám vì khó thở khi gắng sức ngày càng trầm trọng trong 6 tháng qua. Trước đây, bệnh nhân có thể đi bộ quãng đường dài, nhưng hiện nay chỉ có thể đi bộ vài trăm mét là xuất hiện triệu chứng khó thở và chóng mặt. Bệnh nhân không bị ngất, không ho, không đau ngực hay khò khè. Bệnh nhân cũng mô tả các triệu chứng phù hợp với hiện tượng Raynaud và có các vết rỗ ở đầu ngón tay. Tiền sử bệnh lý bao gồm trào ngược dạ dày thực quản, đang điều trị bằng pantoprazole và có cải thiện một phần. Bệnh nhân không hút thuốc lá hay uống rượu bia. Tiền sử gia đình không có gì đặc biệt. Ghi nhận lúc khám: huyết áp 112/72 mm Hg, mạch 94 lần/phút, nhịp thở 18 lần/phút. Độ bão hòa oxy (SpO2) là 95% khi thở khí trời, BMI là 23 kg/m2. Trong nghiệm pháp đi bộ 6 phút, bệnh nhân xuất hiện khó thở nhẹ và SpO2 giảm xuống còn 88%. X-quang ngực không thấy thâm nhiễm. Thăm dò chức năng hô hấp cho thấy FEV1 đạt 95% giá trị dự đoán và tỷ lệ FEV1/FVC là 84%. Áp lực tâm thu động mạch phổi ước tính bằng siêu âm tim Doppler là 65 mm Hg khi nghỉ ngơi (bình thường: 15-30 mm Hg). Sinh thiết phổi ở bệnh nhân này nhiều khả năng sẽ cho thấy kết quả nào sau đây?