TÓM TẮT
Nguyên nhân gây to vú ở trẻ sơ sinh và trẻ em
- Trẻ sơ sinh:
- Kích thích từ hormone của mẹ (xem ‘Trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ’ ở dưới)
- Nhiễm trùng (hình 1) (xem “Viêm vú và áp xe vú ở trẻ dưới hai tháng tuổi”)
- Trẻ tiền dậy thì và dậy thì (xem ‘Trẻ tiền dậy thì và dậy thì’ ở dưới):
- Nụ vú là dấu hiệu của dậy thì sớm hoặc dậy thì bình thường (xem “Dậy thì bình thường”)
- Mô mỡ (lipomastia)
- U máu hoặc u bạch mạch
- Chấn thương hoặc nhiễm trùng vú (xem ‘Chấn thương vú’ ở dưới và “Viêm vú và áp xe vú ở trẻ em và vị thành niên”)
Nguyên nhân gây khối u vú ở trẻ vị thành niên nữ
Hầu hết các nguyên nhân gây khối u vú ở trẻ vị thành niên nữ đều lành tính và tự giới hạn (bảng 1). (Xem ‘Nguyên nhân gây khối u vú ở trẻ vị thành niên nữ’ ở dưới.)
U xơ tuyến vú là tổn thương vú phổ biến nhất ở tuổi vị thành niên. U xơ tuyến thường là các khối u có mật độ chắc như cao su, ranh giới rõ, di động với kích thước trung bình từ 2 đến 3 cm. Các khối u này có thể gây khó chịu trong vài ngày trước khi bắt đầu kỳ kinh nguyệt. (Xem ‘U xơ tuyến vú’ ở dưới.)
Ung thư vú cực kỳ hiếm gặp ở trẻ em và trẻ vị thành niên. Các yếu tố nguy cơ bao gồm tiền sử ung thư cá nhân và tiếp xúc với bức xạ ion hóa. (Xem ‘Ung thư vú’ ở dưới.)
Đánh giá và xử trí khối u vú ở trẻ vị thành niên nữ
Tiếp cận ban đầu đối với bệnh nhân vị thành niên có khối u vú bao gồm khai thác bệnh sử và thăm khám lâm sàng kỹ lưỡng (bảng 2). (Xem ‘Bệnh sử và thăm khám’ ở dưới.)
Chẩn đoán hình ảnh có thể cần thiết để phân biệt khối u nang với khối u đặc, hoặc khi khối u vẫn tồn tại sau hơn một chu kỳ kinh nguyệt. Siêu âm là phương pháp chẩn đoán hình ảnh được ưu tiên cho các khối u vú ở tuổi vị thành niên. (Xem ‘Chẩn đoán hình ảnh’ ở dưới.)
Việc xử trí tiếp theo đối với trẻ vị thành niên có khối u vú tùy thuộc vào việc khối u đó là u nang hay u đặc. (Xem ‘Xử trí tiếp theo’ ở dưới.)
- Chọc hút có thể được chỉ định cho các tổn thương dạng nang kéo dài.
- Sinh thiết mở có thể được chỉ định trong các trường hợp: tổn thương dạng nang không biến mất sau khi chọc hút, chọc hút không đem lại kết quả hoặc không khả thi, và đối với các tổn thương dạng đặc nghi ngờ (ví dụ: khối u không di động, mật độ cứng, tăng kích thước, kèm theo thay đổi da vùng phủ (da cam), gan to, lách to, hạch lympho, khó thở, tổn thương da toàn thân, sưng chi trên hoặc đau lưng).