TÓM TẮT
Nguyên nhân – Quy tắc ghi nhớ từ A đến H giúp hệ thống lại các nguyên nhân gây ngưng tim đột ngột (SCA) ở bệnh nhân mang thai (xem mục ‘Nguyên nhân’ ở dưới):
- A – Biến chứng gây mê, tai nạn/chấn thương
- B – Chảy máu
- C – Nguyên nhân do tim
- D – Thuốc
- E – Nguyên nhân thuyên tắc
- F – Sốt
- G – Nguyên nhân toàn thân, bao gồm thiếu oxy và rối loạn điện giải
- H – Tăng huyết áp
Các nguyên tắc hồi sức chính – Các nguyên tắc cốt lõi trong hồi sức bệnh nhân mang thai bao gồm (sơ đồ 1) (xem mục ‘Tổng quan nhanh về hồi sức’ ở dưới):
- Kích hoạt báo động đỏ (Code blue) – Gọi báo động đỏ sản khoa, huy động đội ngũ đa chuyên khoa sẵn sàng thực hiện mổ lấy thai hồi sức nếu các can thiệp hồi sức ban đầu không thành công.
- Đẩy tử cung sang bên – Nếu tử cung cao hơn rốn, cần đẩy tử cung ra khỏi các mạch máu lớn (động mạch chủ bụng và tĩnh mạch chủ dưới). Chúng tôi khuyến cáo đẩy tử cung sang trái bằng tay thay vì nghiêng toàn bộ cơ thể bệnh nhân (Khuyến cáo 2C). Sử dụng tay đẩy mạnh bờ trên bên phải của tử cung sang trái để đạt được khoảng cách dịch chuyển khoảng 3,8 cm (1,5 inch) so với đường giữa. Phần thân trên vẫn giữ ở tư thế nằm ngửa. (Xem mục ‘Tránh chèn ép tĩnh mạch chủ và động mạch chủ’ ở dưới.)
- Đảm bảo oxy hóa – Luôn tiên lượng đây là một đường thở khó. Thông khí bằng bóng-mặt nạ với 100% oxy và hút sạch đường thở là những bước then chốt trước khi đặt nội khí quản cho bệnh nhân mang thai. Đảm bảo oxy hóa tốt để tránh giảm oxy máu và kiềm hô hấp; thể tích thông khí có thể cần thấp hơn so với phụ nữ không mang thai nếu tử cung quá lớn. (Xem mục ‘Quản lý đường thở’ ở dưới.)
- Ép tim – Vị trí đặt tay và kỹ thuật ép tim thực hiện tương tự như trên người lớn không mang thai. (Xem mục ‘Ép tim’ ở dưới.)
- Sốc điện và dùng thuốc – Không trì hoãn các biện pháp thông thường như sốc điện và dùng thuốc. Mức năng lượng sốc điện ở người lớn tương đương với phụ nữ không mang thai. Tất cả các loại thuốc và liều lượng điều trị ngưng tuần hoàn ở bệnh nhân không mang thai đều được áp dụng cho bệnh nhân mang thai. (Xem mục ‘Sốc điện’ và ‘Sử dụng thuốc hồi sức trong thai kỳ’ ở dưới.)
- Mổ lấy thai hồi sức sau 4 phút
- Cử một người chuyên trách theo dõi thời gian để thông báo cho đội hồi sức khi đã trôi qua 4 phút kể từ khi bệnh nhân ngưng tim. (Xem mục ‘Lấy thai trong quy trình hồi sức’ ở dưới.)
- Nếu các biện pháp hồi sức thông thường không giúp phục hồi tuần hoàn tự nhiên và đáy tử cung ở mức rốn hoặc cao hơn, chúng tôi đồng thuận với hướng dẫn của Hiệp hội Tim mạch Hoa Kỳ (AHA) khuyến cáo thực hiện mổ lấy thai cấp cứu quanh thời điểm tử vong (mổ lấy thai hồi sức – resuscitative hysterotomy) (Khuyến cáo 1C). Lý tưởng nhất, ca mổ nên được bắt đầu vào phút thứ 4 sau khi ngưng tim và hoàn tất việc lấy thai vào phút thứ 5. Việc lấy thai sớm trong quá trình hồi sức là can thiệp then chốt để cải thiện tỷ lệ thành công ở bệnh nhân mang thai.
- Có thể áp dụng thủ thuật sanh bằng forceps hoặc giác hút nếu thai nhi có thể được lấy ra trong vòng 5 phút kể từ khi mẹ ngưng tim phổi (ví dụ: khi đầu thai nhi đã ở vùng tầng sinh môn). (Xem mục ‘Lấy thai trong quy trình hồi sức’ ở dưới.)
- Thực hiện lấy thai (mổ hoặc sanh) ngay tại vị trí đang hồi sức. (Xem mục ‘Các vấn đề về lấy thai’ ở dưới.)
- Vai trò của hạ thân nhiệt sau ngưng tim – Sau khi hồi sức, việc gây hạ thân nhiệt nhẹ đến trung bình (nhiệt độ mục tiêu từ 32 đến 34°C trong 24 giờ) là hợp lý đối với những bệnh nhân hôn mê, không đáp ứng y lệnh hoặc không có cử động có mục đích. Phương pháp này không được áp dụng thường quy vì đối với bệnh nhân chưa lấy thai, nó có thể không an toàn cho thai nhi; đối với bệnh nhân sau sinh, nó có thể gây rối loạn đông máu và làm trầm trọng thêm các biến chứng chảy máu. (Xem mục ‘Chăm sóc sau ngưng tim’ ở dưới.)
- Tiên lượng – Ngưng tim ở bệnh nhân mang thai có tỷ lệ tử vong cao ở cả mẹ và con. Khả năng sống sót của mẹ và thai nhi phụ thuộc vào nhiều yếu tố, bao gồm: nguyên nhân gây ngưng tim, vị trí của bệnh nhân khi ngưng tim (ngoài bệnh viện hay trong bệnh viện, vị trí cụ thể trong bệnh viện), tốc độ triển khai hồi sức, cũng như kỹ năng và nguồn lực của đội ngũ y tế. (Xem mục ‘Kết cục’ ở dưới.)