Viêm mô tế bào và áp xe da: Dịch tễ học, vi sinh học, biểu hiện lâm sàng và chẩn đoán

TÓM TẮT

Định nghĩa – Viêm mô tế bào là tình trạng nhiễm trùng lớp trung bì sâu và mỡ dưới da. Viêm da quàng là tình trạng nhiễm trùng nông hơn, ảnh hưởng đến lớp trung bì trên và hệ bạch huyết nông. Áp-xe da là sự tích tụ mủ trong trung bì hoặc khoang dưới da (hình 2). (Xem mục ‘Giới thiệu’ ở dưới.)

Yếu tố nguy cơ – Người khỏe mạnh ở mọi lứa tuổi đều có thể mắc viêm mô tế bào, nhưng bệnh thường gặp nhất ở người trung niên và người cao tuổi. Các điều kiện thuận lợi bao gồm tổn thương hàng rào bảo vệ da (ví dụ: trầy xước, loét, chàm, hăm kẽ ngón chân, nấm kẽ chân), phù do suy tĩnh mạch hoặc suy giảm dẫn lưu bạch huyết, béo phì và suy giảm miễn dịch. (Xem mục ‘Dịch tễ học’ ở dưới.)

Vi sinh vật học – Liên cầu khuẩn tan huyết beta, thường là Streptococcus nhóm A (tức là S. pyogenes), gây ra đại đa số các trường hợp viêm da quàng và là nguyên nhân phổ biến nhất gây viêm mô tế bào. Staphylococcus aureus, bao gồm cả tụ cầu vàng kháng methicillin (MRSA), là nguyên nhân phổ biến nhất gây áp-xe da nhưng ít gặp hơn trong viêm mô tế bào. Trực khuẩn hiếu khí Gram âm gây ra một số ít các trường hợp.

Một số yếu tố tiếp xúc nhất định có thể liên quan đến các tác nhân gây bệnh cụ thể (bảng 1). (Xem mục ‘Vi sinh vật học’ ở dưới.)

Biểu hiện lâm sàng – (Xem mục ‘Biểu hiện lâm sàng’ ở dưới)

Viêm mô tế bào – Viêm mô tế bào biểu hiện là một vùng da đỏ, phù, nóng và đau với ranh giới không rõ ràng. Chi dưới là vị trí thường gặp nhất và tổn thương gần như luôn xảy ra đơn phương.

Các dấu hiệu tiềm tàng khác bao gồm: bề mặt da bóng, cấu trúc da “vỏ cam” (“peau d’orange”), xuất huyết chấm, mảng xuất huyết, bọng nước nông, chảy mủ, viêm mạch bạch huyết và hạch vùng.

Viêm mô tế bào có xu hướng khởi phát cấp tính, với các triệu chứng khu trú phát triển trong vài giờ, mặc dù một số trường hợp diễn tiến chậm hơn trong vài ngày. Các biểu hiện toàn thân như sốt, nhịp tim nhanh hoặc sốc nhiễm khuẩn cũng có thể xảy ra nhưng không phải lúc nào cũng xuất hiện.

Viêm da quàng – So với viêm mô tế bào, viêm da quàng thường có màu đỏ tươi hơn và có ranh giới rõ ràng, thường gồ cao. Diễn tiến thường cấp tính hơn so với viêm mô tế bào.

Áp-xe da – Áp-xe da biểu hiện là một nốt sần đỏ, đau, có dấu hiệu dao động, có hoặc không kèm theo viêm mô tế bào xung quanh.

Chẩn đoán – Chẩn đoán viêm mô tế bào hoặc viêm da quàng được thực hiện dựa trên lâm sàng ở bệnh nhân mới xuất hiện tình trạng hồng ban, phù, nóng và đau da. Chẩn đoán áp-xe da thường dựa trên lâm sàng ở bệnh nhân có nốt sần da đau và dao động mới xuất hiện.

Tiền sử cần đánh giá tốc độ khởi phát, các bệnh đồng mắc, triệu chứng toàn thân đi kèm và các yếu tố tiếp xúc tiềm tàng. Khám lâm sàng cần đánh giá các cửa ngõ xâm nhập tiềm tàng bên cạnh vùng da tổn thương. (Xem mục ‘Chẩn đoán’ ở dưới.)

Vai trò hạn chế của xét nghiệm – Xét nghiệm cận lâm sàng không bắt buộc đối với nhiễm trùng da và mô mềm không biến chứng.

Cấy vi khuẩn – Chúng tôi thực hiện cấy máu cho những bệnh nhân viêm mô tế bào lan rộng hoặc tiến triển nhanh, có dấu hiệu nhiễm trùng toàn thân (ví dụ: sốt), người cao tuổi hoặc giảm bạch cầu trung tính. Không nên thực hiện cấy phết từ vùng da nguyên vẹn vì kết quả dương tính thường không phản ánh chính xác tác nhân gây bệnh. Cấy dịch mủ từ áp-xe da có thể xác định tác nhân gây bệnh và nên được thực hiện.

Chẩn đoán hình ảnh – Siêu âm có thể giúp đánh giá áp-xe da hoặc áp-xe sâu nếu nghi ngờ. Tuy nhiên, chẩn đoán hình ảnh không thể phân biệt một cách tin cậy giữa viêm mô tế bào với viêm cân mạc hoại tử hoặc hoại thư sinh hơi, do đó không được trì hoãn can thiệp phẫu thuật nếu nghi ngờ các tình trạng này. (Xem mục ‘Chẩn đoán’ ở dưới.)

Chẩn đoán phân biệt

Viêm mô tế bào và viêm da quàng – Việc chẩn đoán nhầm các tổn thương da thành viêm mô tế bào hoặc viêm da quàng là phổ biến; do đó, cần cân nhắc các chẩn đoán nhiễm trùng và không nhiễm trùng thay thế ở tất cả bệnh nhân (bảng 3).

Đặc biệt, tình trạng độc tính toàn thân kèm theo hồng ban tiến triển nhanh hoặc đau không tương xứng với kết quả khám lâm sàng cần gợi ý đến nhiễm trùng nghiêm trọng, bao gồm nhiễm trùng mô mềm hoại tử (ví dụ: viêm cân mạc hoại tử), hội chứng sốc độc tính và hoại tử cơ.

Các quá trình không do nhiễm trùng thường bị chẩn đoán nhầm với viêm mô tế bào bao gồm viêm da tiếp xúc hoặc viêm da do ứ trệ (hình 1), phù bạch huyết và huyết khối tĩnh mạch sâu. (Xem mục ‘Viêm mô tế bào và viêm da quàng’ ở dưới.)

Áp-xe da – Các tình trạng da có thể bị nhầm lẫn với áp-xe da bao gồm nang thượng bì, viêm tuyến mồ hôi mủ, nấm botryomycosis và bệnh ấu trùng ruồi (myiasis). (Xem mục ‘Áp-xe da’ ở dưới.)

Gói truy cập

Dùng thử

0 VND

  • Trải nghiệm một số nội dung trong thư viện.
  • Khôn cần đăng ký tài khoản.
  • Mua gói truy cập khi bạn sẵn sàng.

Gói truy cập một năm

189.000 VND

  • Truy cập toàn bộ thư viện mọi lúc, mọi nơi, và trên mọi thiết bị.
  • Nội dung cập nhật mỗi ngày.
  • Thanh toán bằng quét VietQR, nhanh chóng và an toàn.
  • Hỗ trợ trực tuyến.
Already a member? Log in here