TÓM TẮT
Dịch tễ học của các triệu chứng tâm thần
- Nhân viên y tế – Các lâm sàng viên điều trị bệnh nhân mắc bệnh coronavirus 2019 (COVID-19) có thể xuất hiện các triệu chứng tâm thần từ trung bình đến nặng. Ví dụ, trong năm đầu tiên của đại dịch, tỷ lệ hiện mắc các triệu chứng lo âu có ý nghĩa lâm sàng ở các bác sĩ trên toàn cầu là 26% và trầm cảm là 21%. (Xem thêm ‘Nhân viên y tế’ ở dưới.)
- Bệnh nhân COVID-19 – Những bệnh nhân hồi phục sau giai đoạn COVID-19 cấp tính có nguy cơ cao gặp phải các triệu chứng và rối loạn tâm thần, bao gồm rối loạn lo âu, rối loạn trầm cảm, rối loạn giấc ngủ và rối loạn sử dụng chất. (Xem thêm ‘Bệnh nhân COVID-19’ ở dưới.)
- Cộng đồng nói chung – Trái với quan niệm cho rằng tỷ lệ triệu chứng tâm thần có ý nghĩa lâm sàng ở người trưởng thành trong cộng đồng trong thời kỳ đại dịch cao hơn mức cơ bản, sức khỏe tâm thần của công chúng trước và trong đại dịch nhìn chung là tương đương. Tuy nhiên, tình trạng sức khỏe tâm thần tổng quát, lo âu và/hoặc trầm cảm có sự suy giảm nhẹ ở một số nhóm đối tượng, bao gồm nữ giới, người cao tuổi, cha mẹ hoặc người chăm sóc, và những cá nhân có rối loạn tâm thần sẵn có. (Xem thêm ‘Cộng đồng nói chung’ ở dưới.)
- Đặc điểm lâm sàng – Các đặc điểm lâm sàng của rối loạn tâm thần xảy ra ở bệnh nhân COVID-19 và bệnh nhân không nhiễm bệnh nhìn chung là giống nhau. (Xem thêm ‘Đặc điểm lâm sàng’ ở dưới.)
- Diễn tiến bệnh – Bệnh nhân có các rối loạn tâm thần trước khi nhiễm coronavirus 2 gây hội chứng hô hấp cấp nặng (SARS-CoV-2) có nguy cơ cao diễn tiến COVID-19 nặng, bao gồm cả nguy cơ tử vong liên quan đến COVID-19. (Xem thêm ‘Diễn tiến bệnh’ ở dưới.)
- Đánh giá và chẩn đoán – Chúng tôi đề xuất sàng lọc lo âu, trầm cảm, mất ngủ và rối loạn sử dụng chất cho bệnh nhân COVID-19 trong vòng sáu tháng kể từ khi nhiễm bệnh. Những bệnh nhân có kết quả sàng lọc dương tính cần được đánh giá chẩn đoán chi tiết. (Xem thêm ‘Đánh giá và chẩn đoán’ ở dưới và “Rối loạn lo âu lan tỏa ở người lớn: Dịch tễ học, bệnh sinh, biểu hiện lâm sàng, diễn tiến, đánh giá và chẩn đoán”, phần ‘Sàng lọc’ và “Sàng lọc trầm cảm ở người lớn” và “Đánh giá và chẩn đoán mất ngủ ở người lớn”, phần ‘Các công cụ sàng lọc tự báo cáo’ và “Sàng lọc việc sử dụng rượu và các chất gây nghiện không lành mạnh trong chăm sóc sức khỏe ban đầu”.)
Xử trí
- Tiếp cận chung
Đối với những cá nhân mắc COVID-19 gặp tình trạng lo âu, trầm cảm, mất ngủ hoặc rối loạn stress sau sang chấn, mô hình chăm sóc phân cấp (stepped care) có thể mang lại hiệu quả. Với phương pháp này, việc theo dõi bệnh nhân là tối quan trọng. Những người có mức độ triệu chứng nhẹ sẽ được cung cấp tài liệu tự hỗ trợ và có thể trao đổi với chuyên gia sức khỏe tâm thần nếu có các lo ngại kéo dài hoặc gia tăng. Những cá nhân có triệu chứng trung bình đến nặng có thể được điều trị bởi bác sĩ chăm sóc chính hoặc chuyên gia tâm thần. (Xem thêm ‘Tiếp cận chung’ ở dưới.)
Khám chữa bệnh từ xa về tâm thần (Telepsychiatry) là một phương thức cung cấp chăm sóc tâm thần đã được thiết lập và trở nên phổ biến hơn trong đại dịch COVID-19. Các bằng chứng cho thấy phương pháp này có hiệu quả với nhiều loại rối loạn khác nhau. Các môi trường thực hành phù hợp với telepsychiatry bao gồm chương trình ngoại trú, bệnh viện ban ngày và nội trú. Các can thiệp telepsychiatry đã được chứng minh hiệu quả bao gồm liệu pháp dược lý và các liệu pháp tâm lý khác nhau. Các chiến lược nhằm giải quyết những rào cản thường gặp trong giao tiếp qua điện thoại hoặc video được trình bày trong bảng (bảng 1). (Xem thêm ‘Tâm thần học từ xa’ ở dưới.)
- Nhân viên y tế – Các chuyên gia sức khỏe tâm thần khi làm việc với nhân viên y tế gặp các vấn đề tâm thần liên quan đến COVID-19 nên tập trung giải quyết các nguồn gây lo âu và căng thẳng tiềm tàng, bao gồm nguy cơ tự phơi nhiễm và lây nhiễm, nguy cơ lây nhiễm cho người khác, khối lượng công việc gia tăng quá tải và tình trạng tử vong của bệnh nhân. (Xem thêm ‘Nhân viên y tế’ ở dưới.)
- Bệnh nhân tâm thần nội trú – Bệnh nhân nhập viện điều trị rối loạn tâm thần có nguy cơ cao mắc COVID-19 (đặc biệt là trong thời kỳ tỷ lệ mắc COVID-19 trong cộng đồng tăng cao) do họ sinh hoạt trong môi trường tập trung đông người. Chúng tôi đề xuất các chương trình tâm thần nội trú tuân thủ các quy trình kiểm soát nhiễm khuẩn chung trong cơ sở y tế (ví dụ: sàng lọc tất cả bệnh nhân và nhân viên y tế trước khi vào), cũng như các quy trình đặc thù cho cơ sở tâm thần nội trú nếu khả thi. (Xem thêm “COVID-19: Phòng ngừa nhiễm trùng cho người nhiễm SARS-CoV-2”, phần ‘Phòng ngừa nhiễm trùng trong cơ sở y tế’ và ‘Bệnh nhân tâm thần nội trú’ ở dưới.)
- Ý tưởng và hành vi tự sát – Các can thiệp quản lý ý tưởng và hành vi tự sát (suicidality) ở bệnh nhân COVID-19 bao gồm các phương pháp điều trị đặc hiệu cho hành vi tự sát và điều trị các rối loạn tâm thần nền. (Xem thêm ‘Ý tưởng và hành vi tự sát’ ở dưới.)
- COVID kéo dài (Long COVID) – Bệnh nhân hồi phục sau giai đoạn COVID-19 cấp tính có thể gặp nhiều triệu chứng, bao gồm mệt mỏi và suy giảm nhận thức, tạo thành một hội chứng được gọi bằng nhiều thuật ngữ khác nhau, bao gồm “di chứng sau cấp tính của nhiễm SARS-CoV-2” và “COVID kéo dài”. (Xem thêm “COVID-19: Quản lý người lớn có các triệu chứng kéo dài sau bệnh cấp tính (“COVID kéo dài”)”.)