TÓM TẮT
Tiếp cận chung – Áp xe não là một ổ mủ khu trú trong nhu mô não, có thể là biến chứng của nhiều tình trạng nhiễm trùng, chấn thương hoặc phẫu thuật. Việc quản lý áp xe não thành công thường đòi hỏi sự kết hợp giữa điều trị kháng sinh và dẫn lưu ngoại khoa. (Xem ‘Giới thiệu’ ở dưới.)
Dẫn lưu ngoại khoa – Cần hội chẩn bác sĩ ngoại thần kinh ngay khi chẩn đoán ban đầu áp xe não cho tất cả bệnh nhân. Trong hầu hết các trường hợp, nên thực hiện chọc hút bằng kim hoặc phẫu thuật cắt bỏ ổ áp xe càng sớm càng tốt để xác định tác nhân gây bệnh trước khi khởi trị kháng sinh và nhằm giảm kích thước ổ mủ. (Xem ‘Phẫu thuật’ ở dưới.)
Điều trị kháng sinh
-
Thời điểm khởi trị – Bệnh nhân chẩn đoán áp xe não nên được điều trị kháng sinh ngay sau khi sinh thiết hoặc chọc hút (dưới hướng dẫn của định vị hoặc mổ mở). Tuy nhiên, nếu không thể thực hiện sinh thiết hoặc chọc hút (ví dụ: do vị trí tổn thương), không được trì hoãn điều trị kháng sinh. (Xem ‘Thời điểm khởi trị’ ở dưới.)
-
Phác đồ điều trị ban đầu – Phác đồ khởi đầu dựa trên nguồn gây áp xe nghi ngờ, kết quả nhuộm Gram (nếu có) và các yếu tố liên quan đến bệnh nhân (ví dụ: bệnh nhân suy giảm miễn dịch). Nếu không rõ nguồn gốc, chúng tôi đề nghị điều trị bằng vancomycin cộng với metronidazole cộng với một trong hai loại ceftriaxone hoặc cefotaxime (bảng 2) (Khuyến cáo 2C). Nên sử dụng kháng sinh mở rộng phổ cho vi khuẩn Gram âm (ví dụ: cefepime) thay vì ceftriaxone hoặc cefotaxime nếu nghi ngờ nhiễm Pseudomonas. (Xem ‘Phác đồ điều trị ban đầu’ ở dưới.)
-
Điều trị theo tác nhân gây bệnh – Khi tác nhân gây bệnh được xác định thông qua nuôi cấy, phác đồ điều trị có thể được đơn giản hóa và điều chỉnh theo tác nhân đó. (Xem ‘Điều trị theo tác nhân gây bệnh’ ở dưới.)
-
Thời gian điều trị kháng sinh – Thời gian điều trị áp xe não thông thường kéo dài từ 6 đến 8 tuần, mặc dù một số trường hợp cần kéo dài hơn. Thời gian điều trị cuối cùng phụ thuộc vào đáp ứng của bệnh nhân, các yếu tố liên quan đến vật chủ và tác nhân gây bệnh, phương pháp phẫu thuật cũng như đặc điểm lâm sàng của tổn thương. (Xem ‘Thời gian điều trị’ ở dưới.)
-
Điều trị hỗ trợ – Đối với những bệnh nhân có hiệu ứng choán chỗ đáng kể trên chẩn đoán hình ảnh, chúng tôi đề nghị sử dụng glucocortisoid kết hợp với điều trị kháng sinh (Khuyến cáo 2C). Ngừng sử dụng glucocorticoid ngay khi bệnh nhân cải thiện (xem ‘Glucocorticoid hỗ trợ’ ở dưới). Không khuyến cáo sử dụng thuốc dự phòng co giật.
Theo dõi bệnh nhân
-
Đáp ứng điều trị – Để đánh giá đáp ứng điều trị, bệnh nhân cần được theo dõi cả về lâm sàng và chẩn đoán hình ảnh. Với những bệnh nhân ổn định về lâm sàng, chúng tôi thực hiện chẩn đoán hình ảnh sau khoảng 2 tuần điều trị để ghi nhận sự giảm kích thước của (các) tổn thương, mặc dù một số chuyên gia sẽ thực hiện sớm hơn nếu tổn thương không được dẫn lưu. Sau đó, thực hiện chẩn đoán hình ảnh định kỳ mỗi 2 tuần cho đến khi tổn thương có đường kính dưới 1 cm. Tuy nhiên, bất kỳ sự suy giảm nào về tình trạng lâm sàng đều yêu cầu phải chẩn đoán hình ảnh lại ngay lập tức. (Xem ‘Đáp ứng điều trị’ ở dưới.)
-
Biến cố bất lợi – Bệnh nhân điều trị kháng sinh kéo dài cần được theo dõi để đảm bảo an toàn trong điều trị. Nội dung này được thảo luận trong một bài tổng quan riêng biệt. (Xem “Điều trị kháng sinh đường tĩnh mạch cho bệnh nhân ngoại trú”.)