TÓM TẮT
Trong trường hợp không thể thực hiện xét nghiệm KOH trước khi điều trị cho bệnh nhân có các tổn thương nghi ngờ nấm thân, việc điều trị theo kinh nghiệm bằng thuốc kháng nấm tại chỗ có tác dụng đối với nấm sợi (ví dụ: các thuốc nhóm azole, ciclopirox hoặc terbinafine) là hợp lý, do tỷ lệ mắc nấm thân tương đối cao và nguy cơ xảy ra tác dụng phụ của các thuốc bôi tại chỗ là thấp.
Cần tránh sử dụng các sản phẩm phối hợp chứa thuốc kháng nấm và corticosteroid mạnh (ví dụ: betamethasone dipropionate phối hợp với clotrimazole, Lotrisone), vì thành phần corticosteroid có thể làm trầm trọng thêm tình trạng nấm và gây teo da.
Nếu tổn thương tái phát hoặc không đáp ứng điều trị dù đã chẩn đoán nấm thân, điều này có thể cho thấy việc điều trị chưa thỏa đáng, tái nhiễm (do tự lây nhiễm hoặc từ nguồn bên ngoài), hoặc chẩn đoán sai. (Xem “Nhiễm nấm sợi (nấm da)”, phần ‘Nấm thân’.)
CHỈ ĐỊNH CHUYỂN TUYẾN
Cần hội chẩn da liễu khẩn cấp nếu chẩn đoán không chắc chắn ở những bệnh nhân có bệnh lý toàn thân đi kèm với các tổn thương dạng vòng viêm. Tình trạng bệnh cấp tính hoặc một rối loạn hệ thống tiềm ẩn có thể gây ra những biến chứng nghiêm trọng (ví dụ: viêm mạch IgA [purpura Henoch-Schönlein], sốt thấp khớp cấp, lupus ban đỏ hệ thống, v.v.).
Trẻ sơ sinh có phát ban dạng vòng cần được chuyển đến chuyên khoa da liễu kịp thời vì nguy cơ gây biến chứng cao, ngay cả khi không có dấu hiệu rõ ràng của bệnh lý toàn thân. Ví dụ, lupus sơ sinh và viêm mạch IgA (purpura Henoch-Schönlein) nếu không được điều trị có thể để lại những di chứng nghiêm trọng về lâu dài.
TÓM TẮT VÀ KHUYẾN NGHỊ
Tổng quan – Các tổn thương da dạng vòng đặc trưng bởi hình thái giống như một chiếc nhẫn. Tổn thương dạng vòng thường gặp trong các bệnh lý da liễu và xuất hiện trong nhiều rối loạn khác nhau (bảng 1). (Xem phần ‘Định nghĩa’ ở dưới.)
Đánh giá bệnh nhân – Việc xác định các đặc điểm lâm sàng đi kèm thường có ích cho chẩn đoán tổn thương dạng vòng. Các đặc điểm vật lý như màu sắc tổn thương và sự hiện diện hay vắng mặt của vảy, mụn nước hoặc mụn mủ có thể được đánh giá nhanh chóng. Các yếu tố khác cần xem xét bao gồm diễn tiến của tổn thương, vị trí tổn thương, cùng các triệu chứng tại da hoặc toàn thân đi kèm. (Xem phần ‘Đánh giá bệnh nhân’ ở dưới.)
Xét nghiệm chẩn đoán – Nếu chẩn đoán vẫn chưa chắc chắn sau khi khai thác bệnh sử và thăm khám lâm sàng, các xét nghiệm chẩn đoán như soi tươi KOH để đánh giá nấm thân, sinh thiết da và một số xét nghiệm cận lâm sàng tùy theo nghi ngờ lâm sàng về nguyên nhân gây bệnh sẽ mang lại hiệu quả. (Xem phần ‘Xét nghiệm chẩn đoán’ ở dưới.)
Chẩn đoán điều trị theo kinh nghiệm đối với nấm thân – Bất cứ khi nào có thể, chẩn đoán nấm thân nên được xác nhận bằng xét nghiệm KOH trước khi điều trị. Nếu không thể thực hiện soi KOH, có thể chỉ định điều trị theo kinh nghiệm bằng thuốc kháng nấm tại chỗ. Không được sử dụng các thuốc phối hợp giữa kháng nấm và corticosteroid mạnh. (Xem phần ‘Chẩn đoán điều trị theo kinh nghiệm đối với nấm thân’ ở dưới.)
Chỉ định chuyển tuyến – Các rối loạn hệ thống nghiêm trọng có thể biểu hiện bằng các tổn thương dạng vòng viêm. Cần hội chẩn da liễu khẩn cấp nếu chẩn đoán không chắc chắn ở những bệnh nhân có bệnh lý toàn thân. (Xem phần ‘Chỉ định chuyển tuyến’ ở dưới.)