TÓM TẮT
Giới thiệu – Tia cực tím B phổ rộng (BBUVB, bước sóng từ 280 đến 320 nm) đã được sử dụng trong nhiều thập kỷ để điều trị vảy nến mức độ trung bình đến nặng. Tuy nhiên, từ đầu những năm 1980, dựa trên các nghiên cứu cho thấy bước sóng khoảng 311 nm mang lại hiệu quả cải thiện vảy nến cao hơn so với phổ rộng, tia cực tím B phổ hẹp (NBUVB, bước sóng từ 311 đến 313 nm) đã trở thành hình thức quang trị liệu được sử dụng phổ biến nhất. (Xem thêm ‘Giới thiệu’ ở dưới.)
Nguyên lý quang trị liệu UVB – UVB tác động lên nhiều đích hóa quang trong da, đặc biệt là DNA trong nhân tế bào. Những biến đổi DNA do UVB gây ra sẽ kích thích các con đường truyền tín hiệu, dẫn đến hoạt hóa các yếu tố phiên mã, bài tiết cytokine, ức chế miễn dịch và nhiều đáp ứng tế bào khác (bao gồm dừng chu kỳ tế bào và apoptosis). Tất cả những quá trình này dẫn đến hiệu quả kháng viêm (trong điều trị vảy nến và chàm), làm giảm số lượng lympho bào hoạt hóa hoặc lympho bào tân sinh (trong điều trị mycosis fungoides) và kích thích tái tạo sắc tố (trong điều trị bạch biến). (Xem thêm ‘Nguyên lý và cơ chế’ ở dưới.)
Thiết bị quang trị liệu UVB – Các thiết bị trị liệu BBUVB sử dụng đèn huỳnh quang phát ra dải bước sóng rộng, chủ yếu nằm trong khoảng UVB (280 đến 320 nm) và một phần trong dải tia cực tím A (UVA) (hình 1). Thiết bị trị liệu NBUVB sử dụng đèn huỳnh quang TL-01 phát ra UVB trong khoảng 311±2 nm. (Xem thêm ‘Thiết bị UVB phổ rộng và phổ hẹp’ ở dưới.)
Chỉ định – Các chỉ định phổ biến nhất của liệu pháp UVB, đặc biệt là NBUVB, bao gồm vảy nến mức độ trung bình đến nặng không đáp ứng với điều trị đơn thuần bằng thuốc bôi, viêm da cơ địa nặng và bạch biến (bảng 1). (Xem thêm ‘Chỉ định lâm sàng của liệu pháp UVB’ ở dưới và “Vảy nến mảng mạn tính ở người lớn: Điều trị bệnh lý cần quang trị liệu hoặc điều trị hệ thống”, phần ‘Quang trị liệu’.)
Liều lượng và phác đồ điều trị
- Liều khởi đầu – Điều trị thường bắt đầu với liều UVB khởi đầu bằng 70% liều gây đỏ da tối thiểu (MED) hoặc theo liều xác định dựa trên kiểu hình da (phototype) của bệnh nhân (bảng 3). Cần ghi chép rõ loại đèn được sử dụng để xác định MED, vì giá trị thu được từ nguồn phổ rộng và phổ hẹp có sự khác biệt đáng kể (bảng 2). (Xem thêm ‘Liều lượng và phác đồ điều trị’ ở dưới.)
- Tăng liều – Liều bức xạ được tăng dần từ 5% đến 20% so với liều trước đó. Mục tiêu của việc tăng liều là đạt đến ngưỡng gây đỏ da tối thiểu hoặc vừa đủ nhận biết, đây là chỉ số lâm sàng để xác định liều lượng tối ưu. Lưu ý, vì phản ứng đỏ da do UVB đạt đỉnh từ 18 đến 24 giờ sau khi chiếu xạ, nên không tăng liều trong các ngày liên tiếp đối với những bệnh nhân được điều trị hơn 3 lần mỗi tuần. (Xem thêm ‘Bắt đầu điều trị, tần suất và tăng liều’ ở dưới.)
- Thời gian điều trị – Tiếp tục điều trị cho đến khi đạt được mức độ cải thiện thỏa đáng hoặc khi không còn ghi nhận sự tiến triển thêm dù tiếp tục quang trị liệu. Hầu hết các bệnh da viêm cần từ 20 đến 50 buổi chiếu xạ, trong khi đối với bạch biến, có thể cần từ 100 đến 200 buổi hoặc nhiều hơn để đạt được sự tái tạo sắc tố có ý nghĩa lâm sàng.
Biện pháp an toàn – Trong quá trình quang trị liệu UVB, mắt phải được bảo vệ bằng kính bảo hộ chống tia cực tím (UV). Vùng mặt (trừ khi có chỉ định điều trị), vùng sinh dục và những vùng da không tổn thương phải được bảo vệ bằng kem chống nắng có chỉ số SPF 50+ hoặc che chắn bằng vải. (Xem thêm ‘Biện pháp an toàn’ ở dưới.)
Tác dụng không mong muốn – Các tác dụng không mong muốn ngắn hạn của quang trị liệu UVB bao gồm đỏ da, khô da, ngứa, phồng rộp và tăng tần suất tái phát herpes simplex (bảng 5). Các tác dụng không mong muốn dài hạn bao gồm lão hóa da do ánh sáng và ung thư da do ánh sáng, mặc dù hiệu ứng gây ung thư của NBUVB trong thực hành lâm sàng vẫn chưa được chứng minh. (Xem thêm ‘Tác dụng không mong muốn ngắn hạn và dài hạn’ ở dưới.)