TÓM TẮT
Truy cập tĩnh mạch ngoại vi so với tĩnh mạch trung tâm – Ưu tiên sử dụng catheter ngoại vi khi cần thiết lập đường truyền tĩnh mạch trong thời gian ngắn, khi không cần tiếp cận trực tiếp hệ tuần hoàn trung tâm và khi catheter kích thước nhỏ là đủ. Catheter tĩnh mạch trung tâm được ưu tiên cho những bệnh nhân sử dụng các thuốc gây xơ hóa có thể làm tổn thương tĩnh mạch ngoại vi. Tuy nhiên, đối với bệnh nhân sốc nhiễm khuẩn, nên khởi đầu thuốc vận mạch qua đường truyền ngoại vi thay vì chờ thiết lập đường truyền tĩnh mạch trung tâm. (Xem ‘Chỉ định truy cập tĩnh mạch ngoại vi so với trung tâm’ ở dưới.)
Dự báo khó khăn khi thiết lập đường truyền tĩnh mạch – Các yếu tố liên quan đến việc khó lấy ven bao gồm: tiền sử khó lấy ven, mạng lưới tĩnh mạch không nhìn thấy hoặc không sờ thấy, tiền sử đái tháo đường, sử dụng ma túy đường tĩnh mạch, bệnh hồng cầu hình liềm, điều trị hóa trị, độ tuổi quá thấp hoặc quá cao, thể trạng thiếu cân hoặc béo phì, cùng một số yếu tố khác. Thang điểm A-DIVA (Adult difficult IV access) giúp dự báo tỷ lệ thất bại trong lần thử đầu tiên (bảng 1). Với bệnh nhân dự kiến khó lấy ven, nên để lâm sàng viên giàu kinh nghiệm nhất thực hiện và sử dụng các công cụ hỗ trợ đặt kim và/hoặc siêu âm. (Xem ‘Dự báo khó khăn khi thiết lập đường truyền tĩnh mạch’ ở dưới.)
Giảm đau – Thuốc gây tê tại chỗ và dưới da giúp giảm đau và lo âu liên quan đến việc đặt catheter tĩnh mạch, nên được sử dụng bất cứ khi nào có thể (hình 3). (Xem ‘Giảm đau’ ở dưới.)
Chọn vị trí đặt – Lý tưởng nhất, catheter tĩnh mạch ngoại vi nên được đặt ở các tĩnh mạch xa của chi trên (hình 1 và hình 2). Không đặt đường truyền ngoại vi ở chi có thông nối động tĩnh mạch, tại vị trí có thể gây cản trở cho các thủ thuật dự kiến, hoặc xuyên qua mô nhiễm trùng. Tiền sử phẫu thuật đoạn nhũ hoặc nạo hạch nách không còn được coi là chống chỉ định đối với việc sử dụng garô hoặc chọc tĩnh mạch ở tay cùng bên, miễn là không có phù bạch huyết. (Xem ‘Chọn vị trí đặt’ ở dưới.)
Làm giãn tĩnh mạch – Các phương pháp nhằm tăng cường giãn tĩnh mạch để đặt kim thành công bao gồm (xem ‘Làm giãn tĩnh mạch’ ở dưới):
- Đặt vị trí dự kiến chọc kim thấp hơn mức tim
- Thắt garô cao su mỏng cách vị trí dự kiến chọc kim từ 5 đến 10 cm về phía gần
- Vỗ nhẹ hoặc vuốt nhẹ tĩnh mạch theo chiều từ gần đến xa
- Yêu cầu bệnh nhân nắm và mở bàn tay luân phiên
- Làm tăng nhiệt độ da bằng cách chườm ấm
Kỹ thuật đặt – Các bước của kỹ thuật chọc kim qua da dựa trên mốc giải phẫu được trình bày trong các hình sau (hình 4, hình 5 và hình 6). Nếu đặt đúng, dịch truyền sẽ chảy dễ dàng, không gây đau hay sưng tại vị trí đặt catheter, sau đó catheter có thể được cố định (hình 7 và hình 8). (Xem ‘Kỹ thuật chọc kim qua da dựa trên mốc giải phẫu’ và ‘Cố định catheter’ ở dưới.)
Tiếp cận tĩnh mạch dưới hướng dẫn của siêu âm – Đối với bệnh nhân dự kiến khó lấy ven (bảng 1) hoặc sau hai lần thực hiện kỹ thuật dựa trên mốc giải phẫu thất bại, chúng tôi khuyến cáo sử dụng siêu âm tại chỗ (point-of-care) thời gian thực để hướng dẫn đặt catheter tĩnh mạch ngoại vi (Khuyến cáo 1B). Điều kiện cần là phải có sẵn thiết bị (ví dụ: máy siêu âm, catheter dài hơn), người thực hiện phải thành thạo kỹ thuật siêu âm thời gian thực và tình trạng lâm sàng của bệnh nhân phải cho phép thực hiện. (Xem ‘Vai trò của hướng dẫn siêu âm’ ở dưới.)
Biến chứng – Các biến chứng thường gặp bao gồm viêm tĩnh mạch, thoát dịch hoặc thuốc ra ngoài mạch, bầm tím và hình thành khối máu tụ. Đau khu trú, đỏ, sưng hoặc dòng truyền bị chậm gợi ý có biến chứng. (Xem ‘Theo dõi’ và ‘Biến chứng’ ở dưới.)