TÓM TẮT
Chẩn đoán rối loạn lưỡng cực – Việc chẩn đoán các giai đoạn và rối loạn khí sắc lưỡng cực thường được thực hiện theo Sổ tay Chẩn đoán và Thống kê các Rối loạn Tâm thần, Phiên bản thứ 5, Bản sửa đổi (DSM-5-TR) của Hiệp hội Tâm thần học Hoa Kỳ. (Xem “Rối loạn lưỡng cực ở người trưởng thành: Đánh giá và chẩn đoán”.)
Biểu hiện lâm sàng của rối loạn lưỡng cực – Rối loạn lưỡng cực có thể biểu hiện bằng hưng cảm (bảng 1), hưng cảm nhẹ (bảng 2) hoặc trầm cảm chủ yếu (bảng 3). Giai đoạn khí sắc khi khởi phát rối loạn lưỡng cực thường là trầm cảm chủ yếu. (Xem ‘Tổng quan’, ‘Hưng cảm’, ‘Hưng cảm nhẹ’ và ‘Trầm cảm chủ yếu’ ở dưới.)
Hưng cảm và trầm cảm chủ yếu trong rối loạn lưỡng cực thường đi kèm với các đặc điểm loạn thần, chẳng hạn như hoang tưởng (niềm tin sai lạc, cố định) và ảo giác (tri giác sai lạc); theo định nghĩa, loạn thần không xuất hiện trong hưng cảm nhẹ. (Xem ‘Loạn thần’ ở dưới.)
Bệnh đồng mắc
Tâm thần – Hầu hết bệnh nhân rối loạn lưỡng cực có ít nhất một bệnh tâm thần đồng mắc; các rối loạn thường gặp bao gồm (xem ‘Rối loạn tâm thần’ ở dưới):
- Rối loạn lo âu
- Rối loạn tăng động giảm chú ý (ADHD)
- Rối loạn ăn uống
- Rối loạn ám ảnh cưỡng chế
- Rối loạn nhân cách
- Rối loạn stress sau sang chấn (PTSD)
- Rối loạn sử dụng chất
(Xem ‘Rối loạn tâm thần’ ở dưới.)
Bệnh lý nội khoa – Bệnh nhân rối loạn lưỡng cực cũng có nguy cơ tăng cao đối với các bệnh lý nội khoa đồng mắc. (Xem ‘Bệnh lý nội khoa’ ở dưới.)
Chức năng nhận thức – Nhiều nghiên cứu sử dụng các bài kiểm tra chuẩn hóa trên bệnh nhân lưỡng cực cho thấy chức năng nhận thức thường suy giảm trong cả giai đoạn không triệu chứng cũng như trong các giai đoạn rối loạn khí sắc; các khiếm khuyết bao gồm suy giảm sự chú ý, trí nhớ ngôn ngữ, chức năng điều hành và tốc độ xử lý thông tin. (Xem ‘Nhận thức’ ở dưới.)
Hành vi bạo lực
Nạn nhân của bạo lực – Bệnh nhân rối loạn lưỡng cực dường như có nguy cơ trở thành nạn nhân của bạo lực cao hơn so với quần thể chung. Ngoài ra, tỷ lệ bệnh nhân là nạn nhân của bạo lực có thể cao hơn tỷ lệ họ là người gây ra bạo lực. (Xem ‘Nạn nhân của bạo lực’ ở dưới.)
Hành vi gây bạo lực – Hiện chưa rõ liệu nguy cơ gây bạo lực ở bệnh nhân rối loạn lưỡng cực có cao hơn quần thể chung hay không, do kết quả không nhất quán giữa các nghiên cứu khác nhau. Hành vi gây hấn trong rối loạn lưỡng cực và các rối loạn tâm thần khác cho thấy mức độ tương đương. (Xem ‘Hành vi gây bạo lực’ ở dưới.)
Tự sát
Nỗ lực tự sát – Các nỗ lực tự sát thường gặp trong rối loạn lưỡng cực và có liên quan đến tình trạng hôn nhân (chưa từng kết hôn/độc thân), tiền sử lạm dụng thể chất hoặc tình dục, các triệu chứng trầm cảm, trạng thái hỗn hợp, mức độ nghiêm trọng tăng dần của các giai đoạn trầm cảm, các rối loạn tâm thần đồng mắc và tiền sử gia đình có người tử vong do tự sát. (Xem ‘Nỗ lực tự sát’ ở dưới.)
Tử vong – Khoảng 10 đến 20% bệnh nhân lưỡng cực tử vong do tự sát, tỷ lệ này cao hơn so với quần thể chung. Các yếu tố nguy cơ dẫn đến tử vong do tự sát bao gồm cảm giác tuyệt vọng và tiền sử từng nỗ lực tự sát. (Xem ‘Tử vong’ ở dưới.)