TÓM TẮT
Định nghĩa – Độ tuổi tối thiểu để định nghĩa rối loạn lưỡng cực ở người cao tuổi thường là 60 tuổi. Tuy nhiên, một số chuyên gia đề xuất mốc 50 tuổi. Rối loạn lưỡng cực ở người cao tuổi bao gồm cả những bệnh nhân lớn tuổi có rối loạn khí sắc khởi phát từ sớm và những bệnh nhân lần đầu khởi phát rối loạn khí sắc ở giai đoạn muộn. (Xem thêm mục ‘Định nghĩa’ ở dưới.)
Dịch tễ học – Tỷ lệ hiện mắc suốt đời ước tính của rối loạn lưỡng cực type I trong quần thể chung tại Hoa Kỳ từ 65 tuổi trở lên là 0,8%. Bệnh nhân cao tuổi chiếm khoảng 7% đến 25% tổng số bệnh nhân rối loạn lưỡng cực. (Xem thêm mục ‘Dịch tễ học’ ở dưới.)
Cơ chế bệnh sinh – Cơ chế bệnh sinh của rối loạn lưỡng cực ở người cao tuổi hiện chưa được làm rõ. Tuy nhiên, nguyên nhân của rối loạn lưỡng cực khởi phát muộn (từ 50 tuổi trở lên) có thể khác với rối loạn lưỡng cực khởi phát sớm và kéo dài đến tuổi già. Sự thoái hóa tiến triển của hệ thần kinh trung ương ở người cao tuổi có thể đóng một vai trò trong cơ chế bệnh sinh của bệnh lý này. (Xem thêm mục ‘Cơ chế bệnh sinh’ ở dưới.)
Đặc điểm lâm sàng – Rối loạn lưỡng cực đặc trưng bởi các giai đoạn trầm cảm chủ yếu (bảng 1), hưng cảm (bảng 2) và hưng cảm nhẹ (bảng 3). Đặc điểm lâm sàng của bệnh nhân lưỡng cực lớn tuổi khác với bệnh nhân trẻ ở chỗ tình trạng suy giảm nhận thức thường phổ biến và nghiêm trọng hơn. Ngoài ra, các bệnh lý nội khoa phối hợp cũng xuất hiện thường xuyên hơn ở bệnh nhân cao tuổi. Ngược lại, các rối loạn lo âu phối hợp và rối loạn sử dụng chất dường như ít phổ biến hơn ở nhóm đối tượng này. So với quần thể chung, tuổi thọ của bệnh nhân rối loạn lưỡng cực cao tuổi giảm trung bình 10 năm và tỷ lệ tự sát thành công cao gấp 12 đến 13 lần. (Xem thêm mục ‘Đặc điểm lâm sàng’ ở dưới và “Rối loạn lưỡng cực ở người trưởng thành: Đặc điểm lâm sàng”.)
Đánh giá – Quá trình đánh giá rối loạn lưỡng cực ở người cao tuổi bao gồm khai thác tiền sử tâm thần và thăm khám trạng thái tâm thần, trong đó nhấn mạnh vào các triệu chứng trầm cảm và hưng cảm. Cận lâm sàng cũng bao gồm khai thác tiền sử nội khoa tổng quát, khám thực thể, thực hiện các xét nghiệm chuyên sâu và chẩn đoán hình ảnh để tầm soát các bệnh lý nội khoa như tăng huyết áp, tăng lipid máu, đái tháo đường, suy giáp, bệnh động mạch vành và hen suyễn. Cần đánh giá kỹ tiền sử dùng thuốc ở những bệnh nhân cao tuổi mới khởi phát hưng cảm hoặc trầm cảm chủ yếu, đặc biệt là các liệu pháp điều trị mới do các bác sĩ khác chỉ định, cũng như các loại thuốc bổ trợ và thuốc thay thế do bệnh nhân tự ý sử dụng. (Xem thêm mục ‘Đánh giá’ và ‘Các bệnh lý nội khoa’ ở dưới.)
Chẩn đoán – Có nhiều phân thể rối loạn lưỡng cực có thể chẩn đoán ở bệnh nhân cao tuổi, bao gồm rối loạn lưỡng cực type I và rối loạn lưỡng cực type II. (Xem thêm mục ‘Chẩn đoán’ ở dưới và “Rối loạn lưỡng cực ở người trưởng thành: Đánh giá và chẩn đoán”, phần ‘Chẩn đoán’.)
Chẩn đoán phân biệt – Chẩn đoán phân biệt của rối loạn lưỡng cực bao gồm tâm thần phân liệt, rối loạn phân liệt cảm xúc, rối loạn hoang tưởng, trầm cảm chủ yếu đơn cực và các rối loạn sử dụng chất. Ngoài ra, các giai đoạn rối loạn khí sắc có thể thứ phát sau một bệnh lý nội khoa (bảng 4), bao gồm xơ cứng rải rác, đột quỵ, u não, chấn động não, nhiễm HIV, cường giáp và các bệnh lý thoái hóa thần kinh. (Xem thêm mục ‘Chẩn đoán phân biệt’ ở dưới.)