TÓM TẮT
Đánh giá nguy cơ bệnh tim mạch do xơ vữa (ASCVD): Tất cả bệnh nhân từ 20 tuổi trở lên chưa có bệnh tim mạch (CVD) xác định nên được đánh giá nguy cơ tim mạch định kỳ mỗi 3 đến 5 năm. Cách tiếp cận để ước tính và giảm thiểu nguy cơ tim mạch ở bệnh nhân không triệu chứng được trình bày riêng. (Xem “Đánh giá nguy cơ bệnh tim mạch do xơ vữa để dự phòng cấp 1 ở người trưởng thành”).
Đối tượng sàng lọc: Tương tự như việc sàng lọc cho bất kỳ tình trạng bệnh lý nào, mục đích chính của sàng lọc bệnh tim thiếu máu cục bộ (CHD) là xác định những bệnh nhân có thể cải thiện tiên lượng thông qua can thiệp (trong trường hợp này là điều trị nội khoa tích cực các yếu tố nguy cơ hoặc tái thông mạch vành). (Xem ‘Cơ sở của việc sàng lọc’ ở dưới).
Chúng tôi thường không thực hiện sàng lọc CHD ở bệnh nhân không triệu chứng; nghiệm pháp gắng sức tim không nên là một phần của khám sức khỏe định kỳ hàng năm hoặc khám sàng lọc sức khỏe tổng quát.
Những đối tượng thuộc “nhóm đặc biệt” mà biến cố CHD có thể gây ra những rủi ro riêng biệt hoặc bổ sung so với quần thể trung bình (ví dụ: vận động viên và những người làm một số nghề nghiệp rủi ro cao) có thể cần thực hiện xét nghiệm sàng lọc do yêu cầu của quy định hoặc các yêu cầu khác. (Xem ‘Ai nên được sàng lọc?’ ở dưới).
Việc sàng lọc CHD ở bệnh nhân đái tháo đường không triệu chứng, vốn là nhóm đối tượng có nguy cơ CVD cao hơn, được thảo luận trong một phần riêng. (Xem “Sàng lọc bệnh tim thiếu máu cục bộ ở bệnh nhân đái tháo đường”).
Lựa chọn xét nghiệm sàng lọc: Việc lựa chọn xét nghiệm sàng lọc tùy thuộc vào đặc điểm của từng bệnh nhân.
- Ở những bệnh nhân muốn bắt đầu một chương trình tập luyện và có nguy cơ cao mắc CHD, nghiệm pháp gắng sức là xét nghiệm phù hợp và hữu ích nhất. (Xem ‘Lựa chọn xét nghiệm’ và ‘Nghiệm pháp gắng sức’ ở dưới).
- Chỉ số canxi hóa động mạch vành (CAC) hữu ích nhất ở những bệnh nhân có nguy cơ CHD trung bình hoặc ranh giới, đặc biệt là những người có tiền sử gia đình mắc bệnh động mạch vành khởi phát sớm. Chỉ số CAC có giá trị ở người trưởng thành có nguy cơ ASCVD trong 10 năm ở mức trung bình (7,5% đến 20%) nếu việc quyết định điều trị bằng statin vẫn chưa chắc chắn. Không nên sử dụng chỉ số CAC cho bệnh nhân nhóm nguy cơ cao. (Xem ‘Lựa chọn xét nghiệm’ và ‘Chỉ số CAC và chụp CT mạch vành’ ở dưới).
Chúng tôi không thực hiện sàng lọc CHD bằng các xét nghiệm máu, điện tâm đồ (ECG) lúc nghỉ hoặc theo dõi ECG lưu động vì đây không phải là các xét nghiệm sàng lọc hiệu quả. Chụp động mạch vành xâm lấn không được dùng làm xét nghiệm sàng lọc vì rủi ro khi thực hiện thủ thuật xâm lấn ở một bệnh nhân không triệu chứng thường được cho là vượt quá mọi lợi ích tiềm năng. (Xem ‘Các xét nghiệm sàng lọc không hiệu quả hoặc không được khuyến cáo’ ở dưới).
Đánh giá kết quả sàng lọc dương tính: Việc đánh giá tiếp theo, bao gồm thực hiện thêm xét nghiệm hoặc điều trị cho những trường hợp có kết quả sàng lọc dương tính, nên dựa trên việc xem xét các yếu tố nguy cơ của bệnh nhân, nghề nghiệp, tính hiệu quả về chi phí và lý do lâm sàng cho bất kỳ can thiệp nào có thể được khuyến cáo dựa trên kết quả của các xét nghiệm chuyên sâu hơn. (Xem ‘Theo dõi sau kết quả sàng lọc dương tính’ ở dưới).