Dựa trên xét nghiệm ức chế vi khuẩn định lượng tổng galactose
Chương trình sàng lọc sơ sinh (NBS) ở một số bang sử dụng xét nghiệm ức chế vi khuẩn để phát hiện galactose trong máu. Trong xét nghiệm này, nồng độ galactose tăng cao sẽ ức chế sự phát triển của vi khuẩn xung quanh vết máu trên giấy lọc sau khi ủ trong môi trường đặc biệt.
Kết quả âm tính giả có thể xảy ra ở những trẻ bú kém trước khi lấy mẫu máu, trẻ được cho uống sữa đậu nành ngay từ đầu hoặc trẻ đang điều trị kháng sinh. Nếu nồng độ galactose tăng, cần thực hiện thêm các xét nghiệm như định lượng hoạt độ GALT, điện di cũng như đo hoạt độ epimerase (GALE) và kinase (GALK) trong hồng cầu (Xem ‘Chẩn đoán’ ở dưới).
Các nguyên nhân khác gây tăng galactose được thảo luận ở trên (Xem ‘Chẩn đoán phân biệt’ dưới đây).
TÓM TẮT
Nồng độ galactose thường tăng nhẹ ở trẻ sơ sinh bình thường (6 đến 10 mg/dL), dẫn đến kết quả dương tính giả. Thiếu hụt glucose-6-phosphate dehydrogenase (G6PD) cũng có thể gây dương tính giả trong sàng lọc sơ sinh (NBS) (Xem “Thiếu hụt glucose-6-phosphate dehydrogenase (G6PD)”).
Các nguyên nhân khác gây tăng galactose bao gồm rối loạn chức năng gan do các tình trạng như shunt tĩnh mạch cửa – thể tuần hoàn, teo đường mật và hội chứng Fanconi-Bickel (thiếu hụt chất vận chuyển glucose 2 [GLUT2]) 24-26 (Xem “Teo đường mật” và “Các rối loạn chuyển hóa glycogen khác: thiếu hụt GLUT2 và thiếu hụt aldolase A”, phần ‘Thiếu hụt GLUT2’).
TÓM TẮT VÀ KHUYẾN NGHỊ
- Cơ chế bệnh sinh và di truyền – Galactosemia gây ra bởi các biến thể gây bệnh trong gen galactose-1-phosphate uridyl transferase (GALT), mã hóa cho ba loại enzyme khác nhau (hình 1). Sự thiếu hụt mỗi loại enzyme sẽ tương ứng với một kiểu hình lâm sàng riêng biệt (Xem ‘Cơ chế bệnh sinh’ và ‘Di truyền’ ở dưới).
- Dịch tễ học – Galactosemia thể điển hình do thiếu hụt hoàn toàn galactose-1-phosphate uridyl transferase (GALT). Đây là một rối loạn di truyền lặn trên nhiễm sắc thể thường, xảy ra với tỷ lệ khoảng 1/60.000 trẻ sinh sống (Xem ‘Dịch tễ học’ ở dưới).
- Đặc điểm lâm sàng
- Trẻ mắc galactosemia thể điển hình thường khởi phát trong vài ngày đầu sau khi bắt đầu bú sữa mẹ hoặc uống sữa công thức từ sữa bò (có chứa galactose). Các dấu hiệu và triệu chứng bao gồm vàng da, nôn, gan to, chậm lớn, bú kém, lờ đờ, tiêu chảy và nhiễm trùng huyết (đặc biệt là do Escherichia coli) (Xem ‘Galactosemia thể điển hình’ ở dưới).
- Đặc điểm phổ biến nhất của thiếu hụt galactokinase (GALK) là đục thủy tinh thể dạng thấu kính (Xem ‘Thiếu hụt galactokinase (GALK)’ ở dưới).
- Chẩn đoán
- Định lượng hoạt độ GALT trong hồng cầu là cần thiết để xác nhận chẩn đoán galactosemia thể điển hình. Kết quả xét nghiệm này có thể bị ảnh hưởng nếu trẻ được truyền hồng cầu từ người hiến bình thường; trong trường hợp đó, cần thực hiện xét nghiệm di truyền để chẩn đoán (Xem ‘Thiếu hụt GALT’ ở dưới).
- Định lượng hoạt độ GALK trong hồng cầu và xét nghiệm di truyền là cần thiết để xác nhận chẩn đoán thiếu hụt GALK (Xem ‘Thiếu hụt GALK’ ở dưới).
- Sàng lọc sơ sinh (NBS) đối với galactosemia – Sàng lọc sơ sinh đối với galactosemia được thực hiện ở tất cả các bang tại Hoa Kỳ. Những trẻ sơ sinh có kết quả sàng lọc dương tính với galactosemia cần được chuyển sang dùng sữa công thức đậu nành ngay lập tức trong khi chờ xác nhận chẩn đoán (Xem ‘Sàng lọc sơ sinh đối với galactosemia’ ở dưới và “Galactosemia: Điều trị”).