TÓM TẮT
Có sự khác biệt đáng kể giữa nữ và nam về dịch tễ học, biểu hiện lâm sàng, đáp ứng điều trị và tiên lượng của bệnh động mạch vành (CHD). Những đặc điểm này cần được cân nhắc kỹ lưỡng trong quá trình chăm sóc bệnh nhân nữ đã xác định hoặc nghi ngờ mắc bệnh, cụ thể bao gồm:
- Phụ nữ thường có nhiều bệnh đồng mắc hơn, dẫn đến kết quả điều trị kém hơn trong các phân tích chưa điều chỉnh. (Xem ‘NSTEACS’ và ‘Tiêu sợi huyết’ ở dưới.)
- Sau nhồi máu cơ tim cấp có ST chênh lên (STEMI), phụ nữ có tỷ lệ sốc tim cao hơn và tỷ lệ tử vong trong bệnh viện khi có sốc tim cũng cao hơn, ngay cả sau khi đã điều chỉnh các khác biệt về đặc điểm nền. (Xem ‘STEMI’ ở dưới.)
Các khuyến cáo về quản lý bệnh động mạch vành nhìn chung là tương tự ở cả nam và nữ. Tuy nhiên, có một số khuyến cáo cụ thể dựa trên giới tính như sau:
- Liệu pháp thay thế hormone không được khuyến cáo để bảo vệ tim mạch cho phụ nữ mắc bệnh động mạch vành. (Xem ‘Thuốc’ ở dưới.)
- Đối với hội chứng mạch vành cấp không ST chênh lên, chiến lược can thiệp sớm đặc biệt có lợi cho những phụ nữ có nguy cơ cao (ví dụ: troponin dương tính). Ở nam giới, mức độ rủi ro dường như không ảnh hưởng đến lợi ích của chiến lược can thiệp sớm. Tuy nhiên, đối với STEMI, lợi ích của việc tái tưới máu sớm là tương đương nhau giữa nam và nữ. (Xem ‘Chiến lược can thiệp sớm’ và ‘Can thiệp động mạch vành qua da tiên phát’ ở dưới.)
- Sau tiêu sợi huyết hoặc can thiệp động mạch vành qua da tiên phát, phụ nữ có nguy cơ chảy máu cao hơn một chút nhưng vẫn nhận được lợi ích từ các liệu pháp này. (Xem ‘Tái tưới máu mạch vành’ ở dưới.)
- Liệu pháp statin trong dự phòng cấp 2 hiện chưa được sử dụng rộng rãi ở phụ nữ, mặc dù có bằng chứng cho thấy lợi ích mang lại tương đương với nam giới. (Xem ‘Các can thiệp dự phòng cấp 2’ ở dưới.)