TÓM TẮT
Ý nghĩa lâm sàng – Nạo vét hạch chậu và hạch cạnh động mạch chủ là một phần then chốt trong phẫu thuật phân giai đoạn cho bệnh nhân ung thư cổ tử cung, tử cung, buồng trứng, vòi trứng hoặc màng bụng. (Xem ‘Giới thiệu’ ở dưới.)
Nạo vét hạch chậu – Các hạch chậu bao gồm phần thấp của hạch chậu chung, hạch chậu ngoài, hạch chậu trong, hạch bịt, hạch cùng và hạch cạnh trực tràng (hình 4). Quy trình nạo vét hạch chậu bao gồm việc lấy bỏ đối xứng mô hạch từ nửa dưới của mỗi động mạch chậu chung, mặt trước và mặt trong của nửa trên động mạch và tĩnh mạch chậu ngoài, và nửa dưới của lớp mỡ vùng bịt nằm phía trước dây thần kinh bịt. (Xem ‘Hạch chậu’ ở dưới.)
Nạo vét hạch cạnh động mạch chủ – Nạo vét hạch cạnh động mạch chủ bao gồm việc cắt bỏ mô hạch dọc theo tĩnh mạch chủ dưới từ mức động mạch mạc treo tràng dưới đến điểm giữa động mạch chậu chung phải, và vùng giữa động mạch chủ với niệu quản trái từ động mạch mạc treo tràng dưới đến điểm giữa động mạch chậu chung trái (hình 5). (Xem ‘Hạch cạnh động mạch chủ’ ở dưới.)
Tiếp cận phẫu thuật – Phương pháp tiếp cận phẫu thuật nạo vét hạch trong ung thư phụ khoa thường được quyết định dựa trên phương án tối ưu cho toàn bộ quy trình, vì phẫu thuật phân giai đoạn cho ung thư nội mạc tử cung, buồng trứng, vòi trứng và màng bụng bao gồm cắt tử cung, cắt hai phần phụ và phẫu thuật giảm khối u. (Xem ‘Tiếp cận phẫu thuật’ ở dưới.)
Đối với bệnh nhân ung thư cổ tử cung giai đoạn tiến triển tại chỗ (giai đoạn IB2 đến IVA) thực hiện nạo vét hạch chậu và hạch cạnh động mạch chủ để đánh giá trước khi xạ trị hóa trị bước một, quy trình nạo vét hạch thường được thực hiện như một phẫu thuật độc lập. (Xem ‘Tiếp cận phẫu thuật’ ở dưới.)
Với những bệnh nhân này, chúng tôi ưu tiên tiếp cận bằng robot nếu khả thi thông qua đường xuyên phúc mạc. Đối với những trường hợp phẫu thuật độc lập thực hiện bằng mổ mở, chúng tôi khuyến cáo nên tiếp cận ngoài phúc mạc thay vì xuyên phúc mạc (Khuyến cáo 2C). (Xem ‘Xuyên phúc mạc so với ngoài phúc mạc’ ở dưới.)
Phù bạch huyết – Phù bạch huyết là biến chứng thường gặp nhất sau nạo vét hạch chậu và hạch cạnh động mạch chủ, với tỷ lệ báo cáo từ 1,5% đến 28%. Tỷ lệ này có thể thấp hơn thực tế do biến chứng này thường ít được ghi nhận trong các báo cáo hồi cứu. Xạ trị sau mổ và phạm vi nạo vét hạch càng rộng càng làm tăng nguy cơ xảy ra biến chứng. Việc nhận biết sớm là yếu tố then chốt để kiểm soát bệnh. Bệnh nhân phù bạch huyết được khuyến cáo nên mang tất áp lực thường xuyên nhất có thể và cần được chuyển đến chuyên gia vật lý trị liệu chuyên về điều trị phù bạch huyết. (Xem ‘Các vấn đề về dẫn lưu hạch’ ở dưới.)