TÓM TẮT
Định nghĩa và cơ sở – Són tiểu khi gắng sức (SUI) xảy ra khi áp lực trong ổ bụng tăng cao vượt quá áp lực đóng niệu đạo, dẫn đến tình trạng rò rỉ nước tiểu không tự chủ. Hiện có nhiều lựa chọn điều trị SUI, từ các can thiệp không phẫu thuật đến phẫu thuật. Đối với những bệnh nhân lựa chọn phẫu thuật, đặt đai treo trung niệu đạo đã trở thành phương pháp ưu tiên. (Xem thêm ‘Cơ sở và các lựa chọn điều trị SUI’ ở dưới.)
Các loại đai treo – Hai loại phẫu thuật đai treo chính trong điều trị SUI ở nữ giới là đai treo trung niệu đạo và đai treo mu-âm đạo (bảng 1). Cả hai đều là loại đai treo dưới niệu đạo. Các phương pháp treo trung niệu đạo bao gồm đường sau xương mu, đường qua lỗ bịt và đường rạch đơn. Trong đó, kỹ thuật đường sau xương mu và đường qua lỗ bịt mỗi loại lại có hai đường tiếp cận phẫu thuật khác nhau. (Xem thêm ‘Các loại đai treo và đường tiếp cận’ ở dưới.)
Lựa chọn phương pháp treo trung niệu đạo – Đai treo trung niệu đạo bằng vật liệu tổng hợp là lựa chọn phẫu thuật ưu tiên cho hầu hết bệnh nhân SUI nhờ hiệu quả cao, nguy cơ biến chứng thấp và thời gian hồi phục nhanh. Khi quyết định sử dụng đai treo trung niệu đạo làm phương pháp phẫu thuật chính, cần cân nhắc giữa lợi ích và rủi ro tương đối của đai treo toàn chiều dài (đường sau xương mu hoặc đường qua lỗ bịt) so với đai treo đường rạch đơn. (Xem thêm ‘Lựa chọn giữa các loại đai treo trung niệu đạo’ ở dưới.)
Ưu điểm của đai treo toàn chiều dài so với đai treo đường rạch đơn – Đối với những bệnh nhân dự định phẫu thuật đai treo trung niệu đạo điều trị SUI, chúng tôi đề xuất sử dụng đai treo toàn chiều dài thay vì đai treo đường rạch đơn (Khuyến cáo 2B). Tuy nhiên, đai treo đường rạch đơn vẫn có thể là một lựa chọn thay thế hợp lý. Bệnh nhân cần được tư vấn về việc dữ liệu dài hạn cho đai treo đường rạch đơn còn hạn chế, cũng như các nguy cơ xảy ra biến cố bất lợi của cả hai loại đai treo. (Xem thêm ‘Toàn chiều dài so với đường rạch đơn’ ở dưới.)
So sánh đai treo toàn chiều dài đường sau xương mu và đường qua lỗ bịt – Đối với những bệnh nhân dự định phẫu thuật đai treo trung niệu đạo toàn chiều dài, chúng tôi tư vấn chi tiết về hiệu quả và các tác dụng không mong muốn tiềm tàng của cả hai loại (đường sau xương mu và đường qua lỗ bịt); việc lựa chọn sẽ dựa trên nguyện vọng của bệnh nhân và mức độ chấp nhận rủi ro. Chúng tôi cho rằng dữ liệu từ các thử nghiệm ngẫu nhiên so sánh hiệu quả và biến chứng dài hạn (>5 năm) giữa hai phương pháp này hiện chưa đủ để đưa ra kết luận chắc chắn về sự vượt trội của phương pháp này so với phương pháp kia.
- Đai treo trung niệu đạo đường sau xương mu: Có hiệu quả cao hơn một chút nhưng tỷ lệ thủng bàng quang, tổn thương ruột, đau trên xương mu trong ngắn hạn sau mổ và rối loạn đi tiểu sau mổ (có thể cần phải tháo đai treo) cũng cao hơn. (Xem thêm ‘Đai treo toàn chiều dài đường sau xương mu hoặc đường qua lỗ bịt’ ở dưới.)
- Đai treo trung niệu đạo đường qua lỗ bịt: Có hiệu quả thấp hơn một chút và gây đau vùng bẹn ngắn hạn sau mổ nhiều hơn, nhưng ít gây rối loạn đi tiểu và nguy cơ thủng bàng quang thấp hơn. (Xem thêm ‘Đai treo toàn chiều dài đường sau xương mu hoặc đường qua lỗ bịt’ ở dưới.)
Đai treo đường rạch đơn – So với đai treo toàn chiều dài, đai treo đường rạch đơn có chiều dài ngắn hơn (khoảng 8 cm thay vì 40 cm) và chỉ yêu cầu một đường rạch âm đạo (tức là không cần rạch bụng). Đai treo đường rạch đơn có thể được đặt theo đường sau xương mu (cố định vào cơ hoành niệu dục) hoặc đường qua lỗ bịt (cố định vào cơ bịt trong). Mặc dù dữ liệu hỗ trợ chỉ giới hạn trong thời gian theo dõi 36 tháng, đai treo đường rạch đơn cho thấy hiệu quả không kém hơn so với đai treo đường sau xương mu và đường qua lỗ bịt. (Xem thêm ‘Đường rạch đơn’ và ‘Toàn chiều dài so với đường rạch đơn’ ở dưới.)
Đai treo có thể điều chỉnh – Đây là loại đai treo trung niệu đạo cho phép điều chỉnh độ căng của đai sau phẫu thuật. Do dữ liệu hỗ trợ hiện chỉ giới hạn trong các nghiên cứu quy mô nhỏ, loại đai treo này cần được đánh giá thêm trước khi có thể khuyến cáo sử dụng thường quy. (Xem thêm ‘Đai treo có thể điều chỉnh’ ở dưới.)