Liệu pháp thay thế thận liên tục trong tổn thương thận cấp

TÓM TẮT

Hiện chưa có quy trình chuẩn để ngừng liệu pháp thay thế thận liên tục (CKRT). Bệnh nhân thường được chuyển sang lọc máu chu kỳ khi tình trạng huyết động đã ổn định và cần tăng cường vận động.

Ngoài ra, CKRT có thể được chỉ định ngừng khi chức năng thận hồi phục đủ mức 19,20. Vấn đề này được thảo luận chi tiết tại phần khác. (Xem “Kê đơn lọc máu cấp”, mục ‘Quản lý trong giai đoạn hồi phục chức năng thận”.)

BIẾN CHỨNG CỦA CKRT

Các biến chứng của CKRT nhìn chung tương tự nhau giữa các phương thức điều trị. Các biến chứng bao gồm rối loạn điện giải, khoáng chất, thăng bằng kiềm toan; tụt huyết áp; nhiễm trùng; chảy máu và hạ thân nhiệt 13. Nội dung này được thảo luận chi tiết tại phần khác. (Xem “Kê đơn liệu pháp thay thế thận liên tục trong tổn thương thận cấp ở người lớn”, mục ‘Biến chứng’.)

TÓM TẮT VÀ KHUYẾN CÁO

  • Chỉ định liệu pháp thay thế thận liên tục (CKRT) – Dựa trên thực hành lâm sàng, chỉ định chính để lựa chọn CKRT thay vì lọc máu chu kỳ là tình trạng huyết động không ổn định. Tuy nhiên, các thử nghiệm ngẫu nhiên chưa chứng minh được CKRT làm giảm tình trạng tụt huyết áp so với lọc máu chu kỳ. (Xem ‘Chỉ định’ ở dưới.)
  • Các phương thức CKRT – Các phương thức CKRT bao gồm siêu lọc máu liên tục (CVVH), thấu lọc máu liên tục (CVVHD) và lọc máu liên tục kết hợp (CVVHDF). Sự khác biệt chính giữa các phương thức này là cơ chế loại bỏ chất hòa tan. (Xem ‘Định nghĩa về phương thức CKRT’ ở dưới.)
  • Lựa chọn phương thức CKRT – Việc lựa chọn phương thức CKRT phụ thuộc vào nguồn lực sẵn có và kinh nghiệm của bác sĩ lâm sàng. Tất cả các phương thức đều sử dụng chu trình tĩnh mạch – tĩnh mạch với dòng máu đi qua bộ lọc/màng lọc được điều khiển bởi bơm máu ngoài cơ thể. Các phương thức động mạch – tĩnh mạch, vốn điều khiển dòng máu bằng chênh lệch giữa huyết áp động mạch trung bình (MAP) và áp lực tĩnh mạch, hiện không còn được sử dụng thường quy do những rủi ro liên quan đến việc thiết lập đường vào động mạch (thuyên tắc, chảy máu). (Xem ‘Định nghĩa về phương thức CKRT’ ở dưới.)
  • Đường vào mạch máu cho CKRT – CKRT yêu cầu đường vào mạch máu ổn định, đảm bảo lưu lượng máu ít nhất 200 đến 250 mL/phút. Tiêu chuẩn là catheter lọc máu hai nòng, có đường hầm hoặc không có đường hầm. Đối với bệnh nhân bệnh thận giai đoạn cuối đã có cầu nối động tĩnh mạch (AVF) hoặc graft động tĩnh mạch (AVG) để lọc máu duy trì, chúng tôi khuyến cáo không sử dụng AVF hoặc AVG cho CKRT trừ khi không còn lựa chọn đường vào nào khác (Khuyến cáo 2C). Việc sử dụng này tiềm ẩn nguy cơ tuột kim gây chảy máu hoặc tổn thương AVF/AVG. (Xem ‘Đường vào mạch máu’ ở dưới.)
  • Biến chứng của CKRT – Các biến chứng của CKRT bao gồm tụt huyết áp, nhiễm trùng, chảy máu và hạ thân nhiệt. Các bất thường xét nghiệm thường gặp bao gồm giảm phospho máu, giảm kali máu, giảm magie máu và giảm canxi máu (tùy thuộc vào phương pháp chống đông). (Xem ‘Biến chứng của CKRT’ ở dưới.)

Gói truy cập

Dùng thử

0 VND

  • Trải nghiệm một số nội dung trong thư viện.
  • Khôn cần đăng ký tài khoản.
  • Mua gói truy cập khi bạn sẵn sàng.

Gói truy cập một năm

389.000 VND

  • Truy cập toàn bộ thư viện mọi lúc, mọi nơi, và trên mọi thiết bị.
  • Nội dung cập nhật mỗi ngày.
  • Thanh toán bằng quét VietQR, nhanh chóng và an toàn.
  • Hỗ trợ trực tuyến.
Already a member? Log in here