TÓM TẮT
-
Hồng ban độc do hóa trị – Thuật ngữ “hồng ban độc do hóa trị” dùng để chỉ một nhóm các phản ứng da do các tác nhân hóa trị truyền thống gây ra (thường gặp nhất là doxorubicin, pegylated liposomal doxorubicin, fluoropyrimidines [fluorouracil, capecitabine], cytarabine và docetaxel) với các đặc điểm lâm sàng và mô bệnh học chồng lấp nhau. Biểu hiện lâm sàng phổ biến nhất xảy ra ở bàn tay và bàn chân, được gọi là “hội chứng bàn tay – bàn chân”. (Xem “Hồng ban độc do hóa trị (hội chứng bàn tay – bàn chân)”.)
-
Viêm tuyến mồ hôi eccrine bạch cầu đa nhân trung tính – Viêm tuyến mồ hôi eccrine bạch cầu đa nhân trung tính (NEH) biểu hiện bằng các mảng đỏ, phù nề (hình 2A-B) ở bệnh nhân ung thư (có hoặc không kèm hóa trị), bệnh nhân nhiễm trùng, hoặc những người đang điều trị bằng nhiều loại thuốc hóa trị khác nhau (bảng 1). (Xem ‘Viêm tuyến mồ hôi eccrine bạch cầu đa nhân trung tính’ ở dưới và “Bệnh da do bạch cầu đa nhân trung tính”, phần ‘Viêm tuyến mồ hôi eccrine lòng bàn tay bàn chân’.)
-
Phản ứng nhạy cảm ánh sáng – Các phản ứng độc tính ánh sáng và dị ứng ánh sáng có liên quan đến nhiều loại thuốc hóa trị, trong đó phổ biến nhất là methotrexate. Phản ứng độc tính ánh sáng là phản ứng không qua trung gian miễn dịch, giống như tình trạng cháy nắng trầm trọng, gây đỏ da, phù nề, đau và nhạy cảm tại các vùng da tiếp xúc với ánh nắng mặt trời (hình 4A-B). Phản ứng dị ứng ánh sáng là phản ứng quá mẫn muộn, đặc trưng bởi tổn thương dạng sẩn mụn, ngứa, xuất hiện ở vùng tiếp xúc ánh sáng nhưng có thể lan sang cả những vùng không tiếp xúc. Các phản ứng hồi ứng ánh sáng (photorecall) và tăng cường ánh sáng (photoenhancement) cũng đã được ghi nhận với methotrexate và nhóm taxane. (Xem ‘Phản ứng nhạy cảm ánh sáng’ ở dưới.)
-
Viêm da hồi ứng sau xạ trị và tăng nhạy xạ – Viêm da hồi ứng sau xạ trị (RRD) là một phản ứng viêm da xảy ra tại vùng da từng được xạ trị sau khi dùng một số thuốc hóa trị (bảng 2). Một số thuốc có thể làm tăng hiệu quả và tăng độc tính trên da của xạ trị khi dùng đồng thời hoặc trong vòng một tuần kể từ khi xạ trị; những thuốc này được gọi là chất làm tăng nhạy xạ. Tương tác hiệp đồng này có thể được ứng dụng lâm sàng trong các trường hợp kết hợp hóa trị và xạ trị để tăng cường hiệu quả điều trị. (Xem ‘Viêm da hồi ứng sau xạ trị và tăng nhạy xạ’ ở dưới.)
-
Thay đổi sắc tố – Thay đổi sắc tố ở da, móng và niêm mạc thường gặp ở bệnh nhân dùng các thuốc gây độc tế bào, đặc biệt là các thuốc alkyl hóa và kháng sinh chống ung thư (bảng 3). Tăng sắc tố có thể khu trú hoặc lan tỏa, đôi khi có hình thái đặc trưng như dạng hình rắn (serpentine) hoặc dạng roi vọt (flagellate) (hình 5). Thay đổi màu tóc có thể xảy ra khi dùng cisplatin, cyclophosphamide và methotrexate. (Xem ‘Thay đổi sắc tố’ ở dưới.)
-
Độc tính trên móng – Các thay đổi ở móng như tăng sắc tố và tách móng (hình 8), đôi khi kèm theo viêm các mô quanh móng, có thể do nhiều loại thuốc gây ra, bao gồm thuốc alkyl hóa, taxanes, thuốc kháng chuyển hóa, anthracyclines và kháng sinh chống ung thư (bảng 4). (Xem ‘Độc tính trên móng’ ở dưới.)
-
Phát ban dạng sẩn mụn và phát ban cố định do thuốc – Phát ban dạng sẩn mụn (maculopapular), bao gồm phát ban dạng sởi (hình 9A-B) và phát ban cố định do thuốc (hình 10A-D) có thể xảy ra liên quan đến nhiều tác nhân hóa trị (bảng 5). (Xem ‘Phát ban dạng sẩn mụn (maculopapular)’ ở dưới, ‘Phát ban cố định do thuốc’ ở dưới, “Phát ban thuốc dạng sẩn mụn (maculopapular)” và “Phát ban cố định do thuốc”.)
-
Phản ứng da nghiêm trọng do thuốc – Một số thuốc chống ung thư (bảng 6) có thể gây ra các phản ứng da nghiêm trọng, chẳng hạn như hội chứng Stevens-Johnson/hoại tử thượng bì độc tính (SJS/TEN) và phản ứng thuốc kèm tăng bạch cầu ái toan và triệu chứng toàn thân (DRESS) (hình 12A-D). SJS/TEN là một phản ứng da hiếm gặp, đe dọa tính mạng, đặc trưng bởi sự hoại tử và bong tróc thượng bì diện rộng do quá trình apoptosis hàng loạt của tế bào sừng (hình 12C). Những bệnh nhân đã xuất hiện SJS/TEN hoặc DRESS tuyệt đối không được dùng lại thuốc gây bệnh vì nguy cơ tái phát dẫn đến tử vong. (Xem ‘Phản ứng da nghiêm trọng do thuốc’ ở dưới, “Hội chứng Stevens-Johnson và hoại tử thượng bì độc tính: Cơ chế bệnh sinh, biểu hiện lâm sàng và chẩn đoán” và “Phản ứng thuốc kèm tăng bạch cầu ái toan và triệu chứng toàn thân (DRESS)”.)
-
Lupus đỏ hệ thống thể bán cấp và xơ cứng bì – Lupus đỏ hệ thống thể bán cấp, biểu hiện bằng các tổn thương dạng vòng hoặc đa cung, phân bố theo vùng tiếp xúc ánh sáng, gây đỏ và bong vảy (hình 13A-B), đã được báo cáo trong một vài trường hợp sau khi dùng docetaxel, fluorouracil hoặc capecitabine. Các thay đổi giống xơ cứng bì, bao gồm phù, căng và xơ cứng da ở thân mình và tứ chi, được ghi nhận ở bệnh nhân điều trị bằng các thuốc nhóm taxane, bleomycin, vinblastine, dacarbazine và pemetrexed. (Xem ‘Lupus đỏ hệ thống thể bán cấp và thay đổi giống xơ cứng bì’ ở dưới.)
-
Các phản ứng ít gặp – Các phản ứng ít gặp, bao gồm loét chân, giả viêm mô tế bào, hội chứng Sjögren, viêm da cơ, hiện tượng Raynaud, tái hoạt hóa nhiễm varicella-zoster, porphyria và hiện tượng giống pemphigus cận ung thư, có liên quan đến một số tác nhân hóa trị (bảng 7). (Xem ‘Các phản ứng khác’ ở dưới.)