Sinh lý bệnh của bệnh trào ngược dạ dày thực quản

TÓM TẮT

Cơ chế – Sự phát triển của bệnh trào ngược dạ dày thực quản (GERD) là kết quả của sự cân bằng giữa các yếu tố gây tổn thương hoặc khởi phát triệu chứng (các đợt trào ngược, độ acid của dịch trào ngược, tình trạng tăng nhạy cảm thực quản) và các yếu tố bảo vệ (khả năng làm sạch acid thực quản, tính toàn vẹn của niêm mạc). Mức độ tổn thương niêm mạc tỷ lệ thuận với tần suất các đợt trào ngược, thời gian niêm mạc bị acid hóa và nồng độ gây ăn mòn của dịch trào ngược (sơ đồ 1). (Xem thêm ‘Cơ chế của bệnh trào ngược dạ dày thực quản’ ở dưới.)

Hàng rào chống trào ngược

  • Khả năng vận hành sinh lý – Ba cơ chế sinh lý chủ đạo giúp duy trì chức năng của vùng nối dạ dày – thực quản bao gồm: cơ thắt thực quản dưới (LES) đóng vai trò là cơ thắt thực quản nội tại; cơ hoành (phần chân cơ hoành) đóng vai trò là cơ thắt ngoại tại; và van vạt dạ dày – thực quản, trong đó nửa dưới của LES (thông thường nằm trong ổ bụng) đi vào dạ dày theo một góc chéo, được gọi là góc His. (Xem thêm ‘Hàng rào chống trào ngược’ ở dưới.)
  • Rối loạn chức năng – Sự rối loạn chức năng của hàng rào chống trào ngược xảy ra thông qua các cơ chế phức tạp, là sự tương tác giữa cấu trúc giải phẫu và sinh lý. Các yếu tố quyết định chính bao gồm tuổi tác, béo phì và sự thoái hóa giải phẫu tiến triển của vùng nối thực quản – dạ dày, dẫn đến hình thành thoát vị hoành rõ rệt. (Xem thêm ‘Rối loạn chức năng của hàng rào chống trào ngược’ ở dưới.)
  • Vai trò trong bệnh sinh của GERD – GERD là một chẩn đoán không đồng nhất, được xác định bởi sự xuất hiện của các triệu chứng gây khó chịu (ợ nóng, trào ngược, đau ngực) hoặc viêm thực quản với các tổn thương trợt niêm mạc rõ rệt trên nội soi. Trong phổ bệnh lý này, vai trò của hàng rào chống trào ngược bị suy yếu với tư cách là yếu tố bệnh sinh chủ đạo có sự khác biệt lớn, thường rõ rệt hơn ở những trường hợp viêm thực quản hoặc có di chứng của viêm thực quản.

Làm sạch acid thực quản – Quá trình làm sạch acid thực quản được thực hiện thông qua việc tống xuất dịch trào ngược ra khỏi thực quản bằng nhu động thực quản và trung hòa lượng acid còn sót lại bằng nước bọt khi nuốt. Việc giảm tiết nước bọt hoặc giảm khả năng trung hòa của nước bọt sẽ kéo dài thời gian làm sạch acid. Ở bệnh nhân thoát vị hoành, khả năng làm sạch acid thực quản có thể bị suy giảm do nhu động thực quản kém hiệu quả và hiện tượng dịch từ túi thoát vị trào ngược trở lại thực quản. (Xem thêm ‘Suy giảm khả năng làm sạch acid thực quản’ ở dưới.)

Độ nhạy của thực quản – Một yếu tố quyết định chính đến mức độ nghiêm trọng của triệu chứng ợ nóng, bất kể có viêm thực quản hay không, chính là tình trạng tăng nhạy cảm thực quản. Các bằng chứng mới cho thấy hiện tượng này liên quan đến việc các dây thần kinh cảm giác thực quản nằm nông bất thường, khiến chúng dễ tiếp xúc với các thành phần gây hại trong lòng thực quản, kết hợp với các yếu tố tâm lý xã hội làm trầm trọng thêm cảm nhận về mức độ nặng của triệu chứng. (Xem thêm ‘Độ nhạy và tình trạng tăng nhạy cảm thực quản’ ở dưới.)

Gói truy cập

Dùng thử

0 VND

  • Trải nghiệm một số nội dung trong thư viện.
  • Khôn cần đăng ký tài khoản.
  • Mua gói truy cập khi bạn sẵn sàng.

Gói truy cập một năm

389.000 VND

  • Truy cập toàn bộ thư viện mọi lúc, mọi nơi, và trên mọi thiết bị.
  • Nội dung cập nhật mỗi ngày.
  • Thanh toán bằng quét VietQR, nhanh chóng và an toàn.
  • Hỗ trợ trực tuyến.
Already a member? Log in here